Ở cặp câu này thì "Ba quân
Những lời mai mỉa, diếc móc ấy chỉ là do tức quá văng ra của kẻ từng là bị hại chứ không phải lời nói của "quan tòa". Nàng cảm thấy các việc xảy ra (bắt cóc đưa về nhà Hoạn phu nhân rồi từ đó cho sang nhà Hoạn Thư) là do Hoạn Thư thủ mưu. Mong muốn thì như vậy nhưng việc báo thù lại không thể diễn ra dễ dàng tí nào. Rồi để Hoạn phu nhân sai gia nô (Khuyển, Ưng) làm, đánh thuốc mê rồi bắt Kiều về nhà phu nhân của quan bộ Lại.
Có người cho rằng quyền ở trong tay, muốn làm gì mà chẳng được! Không phải vậy. "Khen cho": từ "cho" là đứng sau một mệnh đề để nhấn mạnh vào một điều gì đó (thí dụ: xin hiểu cho, xin nhớ cho). Theo lời tác giả (Nguyễn Du tiên sinh) kể thì Hoạn Thư nói với mẹ đẻ (Hoạn phu nhân) "Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày" và bàn rõ cách thức tiến hành ra sao.
Thử tìm "bằng chứng" xem sao? Về cái gọi là "tội ghen" thì từ xưa đến nay không thấy có pháp luật thành văn (và không thành văn) nào ghi rõ "tội ghen" và khung hình phạt của tội này mà chỉ có những hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội (do ghen) của đối tượng gây ra.
Đã gọi là "cảm thấy" thì cũng chẳng thể lấy đó làm chứng cớ để định tội được. Tám câu của Hoạn Thư vừa nêu trên là sự thực, là sự khôn ngoan của Hoạn Thư trước người xét xử là nàng Kiều, đặt người xét xử vào tình huống: tuyên phạt sao đây? Nếu chỉ có một vai là "quan tòa" thì nàng Kiều sẽ tuyên bố: "Không có chứng cớ nào định rõ tội của Hoạn Thư, "bị cáo" lại khai đúng sự thật, thái độ đúng mực do vậy tuyên bố Hoạn Thư vô tội, phải tha ngay", nhưng tiếc thay bên cạnh vai trò "quan tòa" lại là vai "người bị hại" luôn "cảm thấy Hoạn Thư có tội" (như đã phân tách ở phần trên) nên chẳng thể tuyên bố thẳng cánh được.
Lời đánh giá được nhấn mạnh thế nào? - "Thật đã nên rằng". Thế còn tội "làm nhục người khác" thì sao? Ta dễ dàng nhận thấy: Khi mở tiệc "tẩy trần", "giải phiền đêm thu", Hoạn Thư "Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi" rồi "Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay" lại còn dọa: "Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn".
Chính điều này càng làm ta không những thông cảm mà còn trọng sự hiểu biết, sự chân thực của nàng Kiều đã vượt qua sự tức tối cá nhân để trọng lẽ phải trên đời. ) Mà cảm xúc đớn đau đến với họ.
"Nghĩ cho" là nhớ lại hộ việc đã xảy ra ở gác viết kinh (thật là khách quan!). "Trả thù", "báo oán" là làm hại lại sức đã làm hại mình.
Nàng đã nói rõ điều này với Từ Hải: "báo bổ rồi sẽ báo oán" và nói với mụ quản gia, sư Giác Duyên "xin hãy rốn ngồi/ Xem cho rõ mặt biết tôi báo oán". Vậy những "chứng cớ" nào định rõ được tội của Hoạn Thư? Có lẽ nàng Kiều (và nhân gian) nghĩ đến các tội sau: ghen, thủ mưu bắt cóc. " Chẳng thể hiểu nổi nội dung chứa đựng những gì nhưng nàng Kiều thì hiểu rất rõ vì nàng là người trong cuộc (tình tự với Thúc Sinh, sau đó trốn đi mang theo "chuông vàng khánh bạc") mà Hoạn Thư là người chứng kiến, là người bắt quả tang, lại không tỏ thái độ gì.
"Nên" là "đáng" (ví dụ: việc nên làm = việc đáng làm). Thế thì không tin sao được! Còn câu 6 thì quá rõ: tính phổ quát chứ không phải chỉ riêng Hoạn Thư. "Khen" là nêu lên cái hay, cái tốt của người khác, ở đây là lời đánh giá về Hoạn Thư.
Hai câu này nói lên một sự thật hiển nhiên, chẳng những nàng Kiều mà "Ba quân đông mặt" đều phải nhấn vì đó là bình thường, mọi người đều thế chứ không phải là điều đặc biệt gì của riêng Hoạn Thư.
") "Tâm phục, khẩu phục" thì người xét xử phải định rõ được tội trạng, qua những "bằng chứng " và "lời cung". Nêu lời nói của nàng Kiều như vậy để thấy: Nàng ôm mối hận rất lớn, lòng nàng sôi sục nỗi căm hận, muốn báo oán mạnh mẽ kẻ đã gây ra khổ cực cho nàng.
Cảnh trong một vở kịch: Thúy Kiều Báo ân trả thù. Điều đó có nghĩa là người xét xử không thể tự ý muốn xử thế nào cũng được, muốn định tội ra sao cũng được! Muốn mọi người (Hoạn Thư, "Ba quân. Đọc những phần trình diễn. Nói đến "chứng cớ" là nói đến sự thực khách quan đã xảy ra, không phụ thuộc vào ý chủ quan của ai đó. "Quan tòa" không nêu ra được chứng cớ, tội trạng nào của "bị cáo" đành nghe "bị cáo" Hoạn Thư nói: "Rằng tôi chút phận đàn bà/ ganh thì cũng người ta thường tình".
Tiếng đàn làm cho "người dưng (tức Hoạn Thư) cười nụ, người trong (Kiều và Thúc Sinh) khóc thầm!". Hoạn thơ lại còn bắt nàng đánh đàn. Một lần, Thúy Kiều nói với Từ Hải: " Tấm thân rày đã nhẹ nhàng/ Chút còn ân oán đôi đường chưa xong " và kể về thế cuộc chìm nổi của mình. Nàng hoàn toàn làm đúng chức năng của người chủ là dạy bảo "đứa ở" của mình làm những việc cần thiết.
Cái hay, cái khéo của Hoạn Thư không nói mình "nghĩ" (mang tính chủ quan) mà đẩy nàng Kiều "nghĩ cho", "nghĩ" ở đây là "nhớ" (Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm), "cho" là "hộ, giúp".
Thật là một sự đánh giá chuẩn xác, khách quan! Điều thế tất sẽ đến là: "Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay". Cố nhiên những cảnh huống ấy do Hoạn Thư tạo ra nhưng không thể hạch lạc, buộc tội được. Ta (người đọc) biết rõ sự thủ mưu đó là nhờ lời kể của tác giả chứ nàng Kiều làm thế nào mà biết được kẻ thủ mưu là Hoạn Thư! Có thể sau này "nghe người ta nói" thì biết nhưng "nghe hóng" không thể là chứng cớ được; kể cả khi Thúc Sinh về thăm nhà, Hoạn thư đã gọi nàng ra lạy mừng thì lúc ấy Kiều mới " hiện tình mới rõ tình/ Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai ".
Như vậy nói rằng Hoạn Thư ghen thì có ghen thật (" Từ nghe vườn mới thêm hoa/ Miệng người đã lắm tin nhà thì không/ Lửa tâm càng dập càng nồng ") nhưng biểu đạt thế nào thì không có bằng chứng cáo buộc. Từ Hải mời những người có công với nàng Kiều để Kiều trả ơn và bắt những người có tội để nàng xét xử.
Xem các cách đó, ta thấy Hoạn Thư không có thái độ, hành vi nào hạ nhục người khác. "Thật" là sự thực, là đúng với cái đã có, đúng với việc đã xảy ra. Kẻ hậu sinh này xin được thắp một nén nhang kính cẩn dâng lên Tố Như tiên sinh để tỏ lòng hàm ơn Người đã để lại cho con cháu đời sau bài học sâu sắc về hai nhân vật nữ giới: Hoạn Thư và Thúy Kiều, một bài học sâu sắc muôn thuở phải ngẫm nghĩ, ngẫm suy trong những bước thăng trầm của mỗi cuộc đời chúng ta.
Thế Hoạn Thư là kẻ thủ mưu thì sao? Vâng, đúng Hoạn Thư là kẻ thủ mưu. Trước mặt nàng Kiều, Hoạn Thư nói với Thúc Sinh " Rằng tài nên trọng mà tình nên thương/ Ví chăng có số giầu sang/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên ".
Cớ đó là khen Hoạn Thư: "Khen cho: - thật đã nên rằng/ Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời ".
Và sỉ nhục người khác. Kiều lại còn đánh giá về sự khéo cư xử đến chừng độ ("Khôn ngoan đến mực") không ai biết, chỉ hai người trong cuộc biết với nhau (ý này đã phân tích rõ ở phần trên).
# Ở trên, phải chăng ta đã làm "thầy cãi", cãi hộ cho tội trạng của Hoạn Thư? Không! Ngay "quan tòa" Thúy Kiều làm cái việc xét xử, tuy rất cay cú, rất muốn báo thù mà cũng không kể tên được một tội trạng nào, đành mượn lối nói châm biếm, mai mỉa, diếc móc. Hai câu chung cục: " Trót đà gây việc gai góc/ Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng ?" càng cho ta thấy "con quan tiền bộ" khôn ngoan biết chừng nào! Hoạn Thư chỉ nhận "trót" tức thị lỡ làm cái việc trái với ý muốn của mình (thí dụ: trót đánh vỡ cái bát) nên sinh ra những việc rối rắm (việc hắc búa) cho nàng Kiều, còn việc xử thế nè "còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng? (Chữ "bài" ở đây tức là "cách", "theo cách" (tỉ dụ: đánh bài chuồn hả = tìm cách chuồn hả).
Trong thâm tâm, nàng Kiều rất muốn xử tội Hoạn Thư - người đã gây bao khổ cực cho mình. Sang câu 3,4: "Nghĩ cho khi gác viết kinh/ Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo". Tóm lại, Kiều nhấn mạnh cái hay, cái tốt của Hoạn Thư là đã nói đúng sự thực, nói trả đáng phải nói. Ở cặp câu thứ ba: " Lòng riêng riêng những yêu kính/ Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai ", Kiều chắc chắn hiểu điều đó là sự thật, không phải lời nói "mép" của Hoạn Thư.
Theo đúng tính chất phụ nữ (xin lỗi các quý bà, các quý phu nhân, các quý chị): "Tiểu thư cũng có Bây giờ đến đây?" (đến nơi "Trướng hùm mở giữa trung quân") và " đàn bà dễ có mấy tay/ Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan ". Việc nàng Kiều xét xử không chỉ có "Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư" mà còn có " Ba quân đông mặt pháp trường/ Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi ".
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét