QĐND- Gần đây, khi UBND tỉnh Trà Vinh chuẩn bị triển khai Dự án nạo vét luồng lạch tại sông Cổ Chiên thì bị người dân địa phương, nhất là người dân hai xã Long Hòa và Hòa Minh (huyện Châu Thành) phản ứng kịch liệt. Vì sao có tình trạng này? Để tìm câu trả lời, chúng tôi đã về địa phương tìm hiểu và thông báo tới độc giả. Dự án nạo vét sông Cổ Chiên được UBND tỉnh Trà Vinh trình lên Thủ tướng Chính phủ và được chấp thuận theo hình thức xã hội hóa, tự bỏ kinh phí nạo vét cửa sông, không sử dụng vốn ngân sách Nhà nước. Thực hành chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã giao Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Kinh tế nông thôn và Công ty Cổ phần Đầu tư phá hoang cảng đảm trách công việc này. Tiếp đó, UBND tỉnh còn chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chỉ dẫn chủ đầu tư thực hành thủ tục về đầu tư, bảo vệ môi trường, đăng ký khối lượng, tận thu sản phẩm theo quy định của luật pháp. Tiếp đó, vào ngày 17-12-2012, Văn phòng Chính phủ đã có thông tin kết luận của Thủ tướng Chính phủ số 407-TB/VPCP về xuất khẩu khoáng sản, trong đó, mục 1, điểm c về các sản phẩm nạo vét cửa sông: “Đồng ý chủ trương cho phép xuất khẩu các sản phẩm cát nhiễm mặn thuộc các dự án nạo vét cửa sông. Giao Bộ Xây dựng chủ trì, kết hợp với các cơ quan liên tưởng thẩm tra, xác định khối lượng được xuất khẩu với từng dự án cụ thể”. Trong đó, cát nhiễm mặn thuộc các dự án được Thủ tướng Chính phủ cho phép xuất khẩu khi địa phương không có nhu cầu sử dụng.
Có thể nói, dự án này đã nhận được sự đồng thuận rất cao của Chính phủ và các bộ, ngành hệ trọng. Thế nhưng, dự án chưa được triển khai đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của người dân hai xã Hòa Long và Hòa Minh (huyện Châu Thành). Lý do mà người dân hai xã này đưa ra là bây chừ trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có tới 40 điểm sạt lở do “dòng sông bên lở, bên bồi”, trong đó có nhiều điểm sạt lở thuộc địa phận hai xã này. Hơn nữa, thời gian gần đây, do Công ty TNHH một thành viên Xuân Cảnh (Công ty Xuân Cảnh) khai phá cát trên sông Cổ Chiên khiến vùng nuôi nghêu của xã viên HTX Tiến Thành (xã Hòa Long, huyện Châu Thành) bị chết hàng loạt. Một số người dân còn cho rằng, hiện tại, việc khẩn hoang cát của Công ty Xuân Cảnh đã và đang nảy sinh nhiều bất cập và vượt tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng trong tỉnh. Để làm rõ sự việc, chúng tôi đã cùng đoàn công tác của Sở liên lạc tải (GTVT), Sở Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) tỉnh Trà Vinh đi khảo sát tình hình nạo vét, khai khẩn cát trên sông Cổ Chiên và bắt gặp không ít điểm sạt lở mới hai bên bờ. Bàn bạc với ông Phan Anh Quốc, Phó giám đốc Sở GTVT, chúng tôi nêu câu hỏi: Có phải vết sạt lở mới là do khai khẩn cát gây ra không? Ông Phan Anh Quốc cho biết: Khúc sông này, bà con đang đóng đáy ổn định và không hề có đơn vị nào khẩn hoang cát. Bởi vậy, những điểm sạt lở là do dòng chảy thiên nhiên gây nên. Sự sạt lở và tạo ra cồn cạn, thậm chí lâu ngày thành đảo là do quy luật của tự nhiên-có lở ắt có bồi! thành ra, việc nạo vét dòng sông trong thời kì tới cần thực hành đúng quy hoạch, đúng khoa học, góp phần điều chỉnh dòng chảy theo ý muốn, giúp thoát lũ và tránh được sự lở-bồi tự nhiên và tạo điều kiện tiện lợi để tàu bè đi lại an toàn, ổn định… Ông Bảy Xuân, Phó giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Kinh tế nông thôn (đơn vị cũng trúng thầu, nhưng chưa khai triển hoạt động), cho biết: “Doanh nghiệp chúng tôi đã bỏ nhiều công sức, tiền nong để khảo sát và chuẩn bị khởi công nạo vét lòng lạch sông, theo chủ trương của Chính phủ tầng lớp hóa việc nạo vét. Chúng tôi sẽ tuân thủ đúng quy định của các cơ quan chức năng về việc tận thu cát nhiễm mặn để xuất khẩu nhằm cân đối số vốn, ngoại giả sẽ đóng góp một phần vào ngân sách của địa phương duyệt y thuế xuất khẩu, kinh doanh…”. Tiếp đó, ông Bảy Xuân nhấn mạnh: “Nếu các cơ quan chức năng chứng minh bằng khoa học rằng, dự án gây bất lợi cho người dân địa phương, thì doanh nghiệp sẵn sàng dừng ngay mọi hoạt động!”. Còn một số cán bộ thuộc Sở GTVT và Sở TN-MT cùng đi với chúng tôi giảng giải: Dự án nạo vét luồng lạch sông Cổ Chiên mới được duyệt, nhưng chưa triển khai hoạt động. Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Kinh tế nông thôn được giao nạo vét đoạn sông này, nhưng khu vực nạo vét cách khu vực nuôi nghêu của HTX Tiến Thành nơi gần nhất cũng là 2,1km và khoảng cách từ bờ sông đến nơi nạo vét luồng lạch ít ra là 500m trở lên (so với quy định của UBND tỉnh là cách 300m). Hơn nữa, dự án chưa khai triển mà đã bị đổ tội "là duyên cớ gây chết tôm nuôi hàng loạt" là không thuyết phục. Thế nhưng, hiện tượng nghêu nuôi của HTX Tiến Thành bị chết hàng loạt trùng với thời điểm phá hoang cát của Công ty Xuân Cảnh cũng không phải tình cờ. Vấn đề này cần điều tra, xác minh làm rõ để bảo vệ uy tín, lợi quyền cho các doanh nghiệp làm ăn chính đáng, cũng như lợi. Của người dân; đồng thời, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Về phần mình, chúng tôi kiến nghị, các cơ quan chức năng của tỉnh Trà Vinh sớm điều tra, xác minh rõ nguyên nhân gây sạt lở bờ sông trên địa bàn và nguyên cớ khiến nghêu nuôi của HTX Tiến Thành chết hàng loạt. Nếu xác định là Công ty Xuân Cảnh sai, thì buộc họ phải nhận lỗi trước dân sau đó bồi thường mọi thiệt hại gây ra. Còn việc Công ty Xuân Cảnh khai phá cát không tuân thủ quy định của tỉnh “vượt khỏi tầm kiểm soát của cơ quan chức năng…” thì cũng cần xem xét lại trách nhiệm giám sát, kiểm tra của những cơ quan chức năng. Nếu có sai phạm thì phải xử lý kỷ luật và buộc họ phải có trách nhiệm bồi hoàn thỏa đáng cho người dân. Cùng với đó, phải đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục để mọi người dân hiểu và đồng thuận với dự án quan yếu này. Bài và ảnh: SĨ BÌNH |
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013
Chưa triển khai đã gặp trở ngại
Chia sẻ Bao giờ mới quên được em?
Khi ngồi suy nghĩ viết những dòng tâm tư này là lúc tôi chẳng thể nào khiên chế được xúc cảm, nước mắt cứ trào tuôn theo dòng suy nghĩ. Ái tình có nhẽ là thứ thiêng liêng nhất và cũng là thứ phức tạp nhất cõi tục, phức tạp tới mức dù phía trước còn biết bao con đường để đi, vậy mà đôi chân tôi chẳng thể nào bước nổi khi vắng bóng em. Trái tim tôi luôn ôm ký ức với những kỷ niệm ngày xưa mà em cùng tôi sánh bước. Có lúc, tôi cũng không nhận ra mình là ai và không hiểu nổi mình nữa, chẳng thể tin nổi khi những ngày không còn em, tôi lại tồi tàn đến thế. Lúc nào tôi cũng nhớ em và nhớ em thật nhiều, em luôn trong suy nghĩ của tôi. Chẳng đêm nào tôi được ngon giấc khi quá cố cứ hiện về trong tôi. Trong giấc mơ tôi luôn thấy em quay về. Khi thức giấc, tôi mới nhận ra đó là giấc mơ không bao giờ có thật, vì giờ em đã êm ấm bên người khác, một người mà có địa vị và giàu sang hơn tôi rất nhiều, do vậy em đã bỏ tôi ra đi không một lời từ giã. Có nhẽ sau nỗi đau của ái tình thì ai cũng tự hứa với lòng mình là sẽ quên tuốt, nhưng thiên hạ này được bao nhiêu người nói được sẽ làm được. Một điều dễ hiểu thôi, nếu muốn quên là quên ngay thìa là thứ tình cảm điêu trá và cũng không xứng đáng gọi là tình yêu. Không thể nào quên được em (ảnh minh họa) Lúc nào tôi cũng nhớ tới em hoặc vô tình bị ai đó nhắc lại quá khứ, làm sao có thể quên em và cầm được nước mắt khi trên nẻo đường về chứng kiến cảnh từng đôi, từng đôi một chở nhau tình tứ lướt qua mặt mình. Chỉ cần nhìn người ta nắm tay thôi là tôi đủ nhớ tới em rồi, tôi vẫn cần lắm đôi bàn tay của em, dù nhẹ nhõm thôi cũng đủ làm tôi ấm lòng. Nhưng giờ toàn bộ đã quá muộn màng rồi. Bài liên hệ:Bao giờ mới quên được em? 3 năm chờ mối tình đơn phương Valentine của tình nhân đơn phương Đau lòng gặp lại người tình đơn phương Bài học từ mối tình đơn phương Đôi lúc bước qua chốn cũ, nơi mà ngày xưa mình còn hạnh phúc và trao cho nhau từng nụ hôn ngọt, tôi lại nghẹn lòng. Vẫn chiếc ghế đá ngày xưa, vẫn cử chỉ âu yếm của ngày nào nhưng người ngồi ở đó giờ không phải là tôi. Tôi đã quá đớn đau kể từ ngày em ra đi, em nói yêu tôi thật lòng là vậy sao? Không tình nào mà không có sóng gió, ấy thế mà tôi mắc phải sai lầm mà em không bỏ qua được, chỉ một tháng mà em đã có ái tình mới. Em đã quá phũ phàng với tôi. Khi người muốn ra đi thì có trăm ngàn lý do để nói. Thiên hạ luôn có luật nhân quả công bằng, tới một ngày nào đó em cũng sẽ nhận trái đắng giống như hiện giờ em đã dành cho tôi. Tiền và địa vị chẳng bao giờ mua được hạnh phúc đâu em, và cũng chẳng có ai là hoàn hảo. Giờ bước chân của tôi đã mệt mỏi, tôi đã buông xuôi mạng từ ngày em ra đi. Giờ tôi cũng có tình ái mới nhưng cũng chỉ để che mắt cõi trần thôi, tôi không thể yêu ai khi mà trái tim của tôi luôn nghĩ về em. Tôi sẽ chấm dứt ngay cuộc tình thay thế này, tôi không muốn ai phải khổ vì tôi. Tôi sẽ luôn cầu nguyện và ngó cho em hạnh phúc, còn tôi sẽ bước tiếp trên nẻo đường mà giờ đây đã vắng bóng em. Chúc em hạnh phúc! |
2 cầu vượt hoàn tất trước tiến nội dung độ
| Riêng cầu vượt thép tại vòng xoay Cây Gõ (quận 6) do địa phương bàn giao mặt bằng chậm và quy mô cầu lớn nên phải đến ngày 27-9 mới hoàn thành. Hiện chủ đầu tư là Khu Quản lý liên lạc tỉnh thành số 1 đang dốc toàn lực gấp rút thi công các hạng mục như thảm bê-tông nhựa mặt cầu, chiếu sáng và cây xanh. Tổng vốn của 3 cầu vượt thép trên khoảng 1.021 tỉ đồng. Có cầu vượt thép, khu vực Nguyễn Tri Phương - 3 Tháng 2 - Lý Thái Tổ sẽ bớt kẹt xe |
Loại hình cập nhật truyền thông mang đậm bản sắc chiến sĩ
QĐND -Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7, bằng những cách làm sáng tạo, những năm qua, mô hình hoạt động tuyên truyền xung kích trong các đơn vị, địa phương Quân khu 7 đã phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của toàn quân khu. Hích, bất ngờ, tạo hiệu ứng tốt Khi trao đổi nghiệp vụ với các cán bộ làm mướn tác tuyên truyền trong LLVT Quân khu 7, Trung tướng Phạm Văn Dỹ, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 7, cho rằng: hiện thời, lính, người dân có quá nhiều các dịch vụ, loại hình, phương tiện tiêu khiển để tuyển lựa, chúng ta phải có cách tuyên truyền sao cho người xem cảm thấy đích thực thuyết phục thì họ mới nghe theo, làm theo. Muốn vậy thì cách tuyên truyền phải chạm đến những vấn đề mà người dân, bộ đội quan hoài, muốn nghe, muốn xem. Liên hoan tuyên truyền xung kích LLVT Quân khu 7 đang diễn ra sôi động ở các đơn vị, địa phương thuộc LLVT Quân khu 7 từ trung tuần tháng 7 đến nay chính là đợt “sát hạch” toàn diện về khả năng làm tuyên truyền, chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền xung kích của LLVT Quân khu giai đoạn hiện. Liên hoan quy tụ 25 đội tuyên truyền xung kích, được chia thành 3 khối: Khối sư đoàn và nhà trường, khối Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh và Bộ CHQS các tỉnh, khối các đơn vị trung, lữ đoàn binh chủng; với hơn 350 cán bộ, vắng viên, tuyên truyền viên tham dự. Đến thời điểm này, liên hoan đã đi được hơn 2/3 chặng đường.
Có mặt ở hồ hết chương trình tuyên truyền của các đội, chúng tôi cảm nhận nội dung tuyên truyền của các đơn vị đã kịp thời bám sát, phản chiếu phong phú, sinh động những sự kiện chính trị, thời sự như: Tuyên truyền về Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về tiếp chuyện đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quân đội tham dự xây dựng nông thôn mới; tuyên truyền về biển, đảo và chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của sơn hà; công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa nơi biên giới, hải đảo; công tác đền ơn đáp nghĩa; những tấm gương điển hình trong học tập, công tác, huấn luyện, SSCĐ… Nét mới của công tác tuyên truyền được tả qua liên hoan chính là những tìm tòi, sáng tạo, đổi mới nội dung, hình thức biểu đạt. Chương trình của các đội tuyên truyền đều kết hợp giữa tuyên truyền miệng của ít viên với vận dụng công nghệ trình chiếu, công nghệ mô phỏng 3D, các hình thức trực giác và các loại hình nghệ thuật: Ca, múa, nhạc, tiểu phẩm, hoạt cảnh dân ca, tấu nói và đặc biệt quyến rũ là các chặp cải lương, một “đặc sản” văn hóa Nam Bộ… Với cách trình bày đa dạng, quyến rũ ấy, nội dung, thông điệp tuyên truyền được chuyển tải đến người nghe, người xem phê duyệt những câu chuyện kể ngắn gọn, nhẹ nhàng, giàu tính biểu cảm. Nhà báo Mai Sông Bé, Giám đốc Đài PT-TH tỉnh Đồng Nai, một trong những đơn vị hỗ trợ thông báo cho liên hoan tâm sự, ngay sau khi xem kịch bản liên hoan và khảo sát một số chương trình tuyên truyền, ông đã quyết định cho truyền hình trực tiếp các chương trình của liên hoan trên “giờ vàng” của sóng truyền hình, bởi cái cách mà bộ đội làm tuyên truyền thực sự gây bất ngờ, thúc cho giới truyền thông, có hiệu ứng đối với đời sống nhân dân. Các chương trình tuyên truyền nhờ đó có sức lan tỏa mạnh mẽ. Đại tá Trần Hữu Tài, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7, Trưởng ban tổ chức liên hoan, cho biết: Rất đáng quý khi trong liên hoan này đã xuất hiện nhiều khuân mặt ít viên, tuyên truyền viên là hạ sĩ quan, đội viên, thậm chí có nhiều tuyên truyền viên là những chiến sĩ mới tòng ngũ, nhưng đã biểu thị tâm huyết và kỹ năng tuyên truyền rất tốt. Lực lượng này không chỉ là hạt nhân ở các đơn vị cơ sở mà sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, họ sẽ là những nhân tố tích cực trong tuyên truyền xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa phương. Hướng đến sự cảm hóa người nghe Trao đổi với chúng tôi, Trung tướng Phạm Văn Dỹ giãi tỏ: “Nhiệm vụ của LLVT trong tình hình mới đòi hỏi chúng ta phải xây dựng cho được một đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên thật sự có năng lực, đủ sức thuyết phục và cảm hóa được đông đảo người nghe”.
Những tìm tòi, đổi mới cách làm tuyên truyền trong LLVT Quân khu 7 những năm qua chính là nhằm phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo được một hàng ngũ vắng viên, tuyên truyền viên đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đó. Mô hình công tác tuyên truyền xung kích được Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo, tổ chức hoạt động đã hình thành và phát triển ở 100% mối manh các đơn vị, địa phương. Hạng “Tuyên truyền xung kích” đã bao hàm đầy đủ vai trò, chức năng, thuộc tính hoạt động của lực lượng này, đó là lấy tuyên truyền làm mũi nhọn xung kích trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tuyên truyền phải mô tả tính xung kích, đi trước, đón đầu thực tại cuộc sống. Quán triệt phương châm đó, mô hình tuyên truyền xung kích ở các đơn vị, địa phương Quân khu 7 đã không ngừng được đầu tư, củng cố, đổi mới.
Một trong những nhân tố tạo ra sự thành công của hoạt động tuyên truyền xung kích trong LLVT Quân khu 7 là đã làm tốt công tác xây dựng, đào tạo hàng ngũ tuyên truyền viên. Các hạt nhân tuyên truyền viên được phát hiện ngay từ khi tuyển gọi thanh niên tòng ngũ. Những “hạt giống” sẽ được lãnh đạo, chỉ huy đơn vị quan tâm đào tạo, tẩm bổ tri thức, kỹ năng, truyền lửa nhiệt huyết ngay từ đầu. Phối hợp giữa môi trường hoạt động thực tại ở đơn vị cơ sở với mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền hằng năm giúp các đơn vị, địa phương trong toàn quân khu có được nguồn tuyên truyền viên xung kích khá dồi dào và đồng đều về chất lượng. Những đồng chí có tiềm năng phát triển tốt sẽ được tạo điều kiện cho đi học tập, đào tạo căn bản để dùng lâu dài. Việc tập huấn nghiệp vụ tuyên truyền cho hàng ngũ cán bộ cơ sở được tiến hành thẳng thớm nhằm cập nhật thông báo, bổ sung tri thức, kỹ năng, đổi mới nội dung tuyên truyền. Mặt khác, quân khu cũng tích cực đầu tư nâng cấp hệ thống thể chế văn hóa, cơ sở vật chất phục vụ công tác tuyên truyền ở các đơn vị cơ sở. Những yếu tố đó đã giúp các đơn vị, địa phương chủ động trong xây dựng kế hoạch, nội dung tuyên truyền một cách sinh động, phong phú. Quờ quạng các hoạt động của đơn vị, nhất là trong huấn luyện, hành quân dã ngoại làm công tác dân vận hoặc trong các sự kiện chính trị lớn của Đảng, sơn hà, quân đội… luôn có mặt lực lượng tuyên truyền xung kích với vai trò “Tuyên truyền để xung kích, xung kích trong tuyên truyền”. Bài và ảnh: PHAN TÙNG SƠN |
Phó chủ toạ Quốc hội thẩm tra Nghị quyết TW 4 ở Tuyên Quang
Sáng 31/7, Đoàn rà soát của Bộ Chính trị do bà Tòng Thị Phóng - Ủy viên Bộ Chính trị - Phó chủ toạ Quốc hội làm đoàn trưởng đã có buổi làm việc với trực Tỉnh ủy Tuyên Quang về việc thực hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cần kíp về xây dựng Đảng hiện nay" và Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị "nối đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tại buổi làm việc, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang cho biết: thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), Tỉnh ủy Tuyên Quang đã khai triển quán triệt, thực hành trang nghiêm các văn bản hướng dẫn của Trung ương đến các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình đối với tập thể Ban Thường vụ và cá nhân chủ nghĩa các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Trong số trên 3.500 việc được các cấp ủy, tổ chức Đảng và tập thể lãnh đạo các cơ quan, đơn vị từ tỉnh đến cơ sở đề ra, qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, toàn tỉnh đã khắc phục cơ bản trên 2.400 việc. Thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, Tuyên Quang đã chọn lọc nội dung: Nâng cao tinh thần bổn phận của cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên trong thực hiện chức nghĩa vụ vụ được giao là nội dung chỉ đạo điểm. Qua đó, giúp cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị tầng lớp, cán bộ, đảng viên và quần chúng. # Các dân tộc trong tỉnh nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về những giá trị to lớn của tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách của Bác Hồ. Cuộc vận động đã tạo chuyển biến mạnh mẽ từ học tập sang làm theo tấm gương đạo đức của Bác với nhiều cá nhân chủ nghĩa, tập thể điển hình. Phát biểu tại buổi làm việc, bà Tòng Thị Phóng đánh giá: Tuyên Quang là một trong những địa phương tập hợp nhiệm vụ khắc phục hạn chế thiếu sót tội sau kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4. “Các đồng chí đã bổ sung chương trình giám sát toàn khóa, có những giám sát chuyên đề rà soát khắc phục thiếu sót khuyết điểm đối với Đảng bộ cấp dưới. Các đảng bộ trực thuộc có phân công các đồng chí thường vụ trực tiếp chỉ đạo và chính nhờ thế nhiều nội dung đã được khắc phục có kết quả”, bà Tòng Thị Phóng nói./. |
Thiên Cầm - đẹp và tốt chưa đẹp
QĐND -Vừa rồi, gia đình tôi đi nghỉ mát tại bãi biển Thiên Cầm, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Sau 10 năm, tôi mới quay trở lại đây, xóm chài ven biển nghèo trước kia nay đã trở nên một khu du lịch khá sầm uất, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, tầng lớp của địa phương. Điều đáng mừng là so với nhiều bãi biển ở khu vực miền Trung thì biển Thiên Cầm còn tương đối hoang vu, sạch sẽ, chưa bị phát triển ồ ạt theo kiểu mùa vụ, "ăn xổi" như một số nơi khác. Nước biển ở đây trong xanh, bãi cát hầu như chơi có rác do ý thức của khách du lịch và chính sự quản lý nghiêm trang của chính quyền. Thêm vào đó, các dịch vụ, nhà hàng ăn uống, khách sạn, mua sắm hải sản có mức giá khá bình dân, ít có chuyện chặt chém, hét "giá trên trời"... Điều làm du khách cảm thấy thoải mái, chấp nhận nhất chính là tình cảm chất phác, thái độ vui vẻ, cởi mở, thân thiện của người dân địa phương. Từ những người bán hàng cá, tôm, mực ngoài bãi biển cho đến "cánh xe ôm", xe điện chở khách, hay những người cho thuê phao, thuê xe đạp đôi, bán hàng lưu niệm… đều hòa nhã, nhẹ nhàng với khách du lịch. Đây là điều không phải khu du lịch nào cũng làm được (ở nhiều nơi, người dân bản địa tìm cách bắt bí, lừa phỉnh, thậm chí còn dọa dẫm những du khách không hợp tác).
Tuy nhiên, bên cạnh những nét đẹp đáng trân trọng thì ở bãi biển Thiên Cầm cũng đã bắt đầu có những tả không hay, cần có sự chấn chỉnh kịp thời. Điển hình là việc có khoảng 90% số người điều khiển xe gắn máy, hoặc ngồi trên xe gắn máy mà không đội mũ bảo hiểm. Đi quanh khu vực các xã Cẩm Long, Cẩm Nhượng, Cẩm Phúc, Cẩm Hà, Cẩm Lộc…, chúng tôi thấy đa số người dự giao thông bằng xe máy, xe lam, xe lôi không hề đội mũ bảo hiểm. Anh Hồ Đức Hòa, một tài xế lôi chở khách cho biết: "Ở đây công an chẳng xử phạt bao giờ, nên người dân cứ đi xe máy thoải mái không cần đội mũ bảo hiểm, ai thích thì đội thôi!". Bên cạnh đó, do hệ thống hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu, trên những con đường làng, xóm nhỏ ở Thiên Cầm, đủ các loại xe đạp, xe máy, xe lai, xe ô tô… chạy lung tung, phứa không theo một quy luật nào, vô cùng hiểm. Ngoại giả, việc phát triển du lịch chưa có quy hoạch cũng khiến cho nơi đây đang bị ô nhiễm tiếng ồn một cách khủng khiếp. Chỉ trong khoảng 2km dọc bãi biển Thiên Cầm đã có tới vài chục điểm hát karaoke ngoài trời tự phát mọc lên. Cứ khoảng hai chục mét lại thấy một màn hình chiếu với năm ba cây loa to tướng và người ta thi nhau hát, hò, hét các loại thể nhạc, du khách phải chịu sự tra tấn của một chợ âm thanh hỗn loạn đến tận khuya. Có khi khách du lịch phải vào phòng khách sạn đóng chặt cửa mà cũng không hết tiếng ồn. Trộm nghĩ, chính quyền địa phương cần có hành động cụ thể để phát huy, nhân rộng những nét đẹp, song song chỉnh đốn, xử lý các sai phạm làm ảnh hưởng xấu tới môi trường du lịch. Có như vậy mới mong phát triển du lịch biển Thiên Cầm một cách vững bền, hiệu quả. Bài và ảnh: DƯƠNG TỬ |
Hỗ trợ cập nhật người nghèo làm nhà tránh lũ
Ông Lê Văn Cường, Chủ tịch UBND xã Sơn Thịnh, cho chúng tôi biết: “Bao đời nay, năm nào người dân vùng này cũng phải chịu ít ra một vài cơn lũ. Nằm ở hạ nguồn sông Ngàn Phố nên mỗi khi có mưa lớn kéo dài là nước lũ vào rất nhanh, người dân chỉ biết tìm đến các xã lân cận để tránh lụt. Chủ trương xây nhà chòi tránh lũ theo sự hỗ trợ của Nhà nước giúp bà con như "sắp chết đuối vớ được cọc". Thực hiện Quyết định 716 của Chính phủ, xã Sơn Thịnh được tỉnh Hà Tĩnh chọn xây dựng 50 nhà chòi thí nghiệm. Khi có chủ trương trên, chính quyền và người dân rất phấn khởi, đồng tình ủng hộ. Trước khi xây nhà chòi tránh lũ, sờ soạng 16 thôn đều tổ chức họp bàn nghiêm chỉnh. Kết quả được bà con bình xét chọn lọc hồ hết đều là những hộ chưa có nhà ở vững chắc, có sàn nhà cao hơn mức ngập lụt từ 1,5 đến 3,6m; xét ưu tiên hộ nghèo, khó khăn về nhà ở... Nên tạo được sự đồng thuận rất cao trong nhân dân. Sau chưa đầy một năm triển khai, các hộ đã làm nhà đảm bảo chất lượng và đúng hồ sơ thiết kế. Các gia đình đều áp dụng sáng tạo, như xây liền kề với nhà cũ hoặc cải tạo nhà cũ để tận dụng triệt để không gian, diện tích nên không chỉ phục vụ chống lũ mà còn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Quá trình xây dựng, chính quyền xã đã huy động đoàn thanh niên, hội đàn bà, hội nông dân cùng phụ giúp để giảm phí tiền xây dựng. Bà Đặng Thị Nga ở thôn Phúc Thịnh phấn chấn nói: “Được Nhà nước hỗ trợ 10 triệu đồng và cho vay 10 triệu đồng, cùng với vay người nhà trong họ gần 30 triệu đồng, gia đình tôi đã xây được căn nhà 2 tầng trên diện tích 20 mét vuông khá khang trang. Nói thật với chú, những mùa mưa lũ trước, cả nhà lo ngơm ngớp, phải di chuyển người và thú vật lên các sườn núi, sườn đê ở xã bên cạnh. Hiện giờ có nhà mới thì tôi yên tâm rồi”. Bà Phạm Thị Ánh ở thôn Đại Thịnh thì phân vua: “Chủ trương này đúng là không chê vào mô được. Tới đây, mong quốc gia nối hỗ trợ thêm cho dân xây nhà chống lũ để quần chúng. # Vùng lụt như chúng tôi đỡ khổ”. Qua quan sát của chúng tôi, nhà chòi tránh lũ ở xã Sơn Thịnh được thiết kế chắc chắn, có một tầng trệt, một tầng lầu với diện tích sàn vượt lũ từ 12 đến 35 mét vuông với giá thành từ 30 đến 60 triệu đồng. Đây là một trong những giải pháp rất thiết thực cho người dân vùng nông thôn "rốn lũ", vừa giải quyết được khó khăn trong công tác ứng phó cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản cho người dân trong các tình huống xảy ra lũ lụt, song song đáp ứng được nhu cầu về nhà ở cho các hộ gia đình, góp phần tăng tiêu chí nhà ở dân cư trong xây dựng nông thôn mới, bảo đảm cho bà con an cư lập nghiệp, xóa đói giảm nghèo vững bền. Với nguồn kinh phí để xây dựng chòi tránh lũ dựa trên nguyên tắc: "quốc gia tương trợ, cộng đồng trợ giúp, hộ gia đình tham dự đóng góp" đã phát huy được sức mạnh tập thể, ý thức đại kết đoàn trong nhân dân và các tổ chức hội, đoàn thể như thanh niên, phụ nữ, nông dân... Đem lại hiệu quả thiết thực, được dân chúng ủng hộ. Bài và ảnh: NGUYỄN CHÍ HÒA |
Đòi hỏi vô tốt lý!
Như vậy, các văn bản này chỉ xác nhận đã nhận được đơn của ông gửi đến, chứ không phải xác nhận ông bị xử oan và được bồi thường 49 tỷ đồng. Tại các bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm cáo buộc ông Vàng cho thấy, từ mâu thuẫn khi người láng giềng vô tình làm chết con trút mà chưa đền bù cho ông; thay vì thương thảo, ông cùng hai người con trai bày mưu lừa con trai người hàng xóm đến chỗ vắng thị uy bằng súng, bắt làm con tin, đồng thời báo cho gia đình họ phải mang của nả theo đề nghị đến địa điểm để chuộc con về. Bị người láng giềng tố giác, các cấp tòa án đã xét xử ông với tội danh “bắt cóc con tin nhằm cướp đoạt tài sản công dân” và tuyên xử ông 5 năm tù giam. Với cáo trạng như vậy, không biết ông lấy cơ sở nào để đòi đền bù 49 tỷ đồng? cứ vào Luật nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước, việc đền bù chỉ được thực hiện sau khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền công nhận ông bị oan. Không có quyết định này, mà ông lại đòi bồi thường 49 tỷ đồng thì thật là một đòi hỏi vô lý. HÀ PHƯƠNG |
Chia sẻ Đề xuất đổi tên UBND thành Ủy ban hành chính
Ngày 30.7, Bộ Tư pháp đã tổ chức hội thảo lấy quan điểm đóng góp cho chương “Chính quyền địa phương” trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 theo đề xuất của Chính phủ. Lương Kết |
Xây dựng quy định, quy chế, nội quy, thêm quy ước cần sát với từng địa phương, đơn vị
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Văn Rãnh, ủy viên ban thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Dân vận Thành ủy - Phó ban Chỉ đạo TP về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, khẳng định đây là một trong những biện pháp quan trọng đảm bảo sự hợp nhất trong tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương, góp phần xây dựng Đảng, tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh kết đoàn toàn dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị. Thời kì qua, các địa phương cũng đã hăng hái xây dựng các quy chế, quy định, quy ước, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực đời sống, tầng lớp, gắn với cái cách thủ tục hành chính ở các cơ quan; chính quyền tăng cường đối thoại trực tiếp với nhân dân, giải quyết kịp thời những bức xúc của người dân. Tuy nhiên, một số nơi vẫn còn xem nhẹ quy chế này, có nơi thực hành vẫn còn hình thức. Trong công tác cán bộ, ăn xài nội bộ chưa thực hành tốt, có nơi còn mất đoàn kết nội bộ. Ông Nguyễn Văn Rãnh lưu ý, cần xây dựng những quy định, quy chế, nội quy, quy ước sát với từng địa phương, đơn vị. Trong quá trình xây dựng các quy định phải phát huy được trí não đông đảo của các cán bộ, công chức, người cần lao./. |
Phấn đấu để Hà Nội thực thêm thụ là địa phương đi đầu
Dưới đây là toàn văn ít: PHẦN THỨ NHẤT ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ thực hiện Nghị quyết Trong công cuộc đổi mới, thực hành công nghiệp hóa, đương đại hóa, Thủ đô Hà Nội đã đạt được nhiều thành quả khôn xiết quan trọng. Tuy nhiên thành thị cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn như thường gian phát triển bị hạn chế, liên lạc tỉnh thành quá tải, kết cấu hạ tầng thị thành thiếu đồng bộ không đáp ứng kịp đề nghị phát triển, dân số cơ học tăng nhanh, thiếu nguồn lực đất đai để phát triển những công trình, dự án lớn… Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu thúc bách khách quan cho việc nghiên cứu mở mang quy mô không gian, địa giới hành chính. Nhằm phát huy và vỡ hoang tối đa tiềm năng, đồng thời tạo điều kiện để giải quyết những hạn chế, bất cập, những mâu thuẫn mới nảy đang cản ngăn, làm chậm quá trình phát triển để xây dựng thị thành Hà Nội là Thủ đô, biểu trưng của nhà nước, trọng điểm chính trị - hành chính quốc gia, trọng tâm lớn về văn hóa - khoa học - đào tạo - kinh tế, trọng tâm du lịch và giao tiếp quốc tế, một tỉnh thành hiện đại, năng động và hiệu quả có tầm khu vực châu Á - thái hoà Dương, Chính phủ đã tiến hành nghiên cứu đề án mở mang địa giới hành chính Hà Nội theo tinh thần Kết luận hội nghị Trung ương 6 (khóa X) của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Sau khi xem xét yêu cầu của Chính phủ, Quốc hội khóa XII đã ban hành quyết nghị số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29/5/2008 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thị thành Hà Nội và một số tỉnh có liên quan. Đây là mốc thời gian lịch sử của Hà Nội, tạo tiền đề để xây dựng và phát triển Thủ đô vươn tới vị thế mới, tầm cao mới, hướng tới đích văn hiến, văn minh, đương đại, giàu bản sắc, xứng đáng là trái tim của cả nước. Được sự quan hoài lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành can hệ, trong 5 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và dân chúng Thủ đô Hà Nội đã phát huy truyền thống đoàn kết, rứa phấn đấu, phát huy lợi thế, vượt qua thách thức, khai triển có hiệu quả quyết nghị của Quốc hội và đạt được nhiều thành quả toàn diện trên ắt các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, từng lớp, xây dựng và quản lý thị thành, củng cố an ninh quốc phòng, mở rộng hiệp tác, hội nhập và phát triển, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của Thủ đô. Một số kết quả chính yếu sau 5 năm thực hiện quyết nghị Quốc hội về mở rộng địa giới Thủ đô Hà Nội như sau: I. CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC triển khai thực hiện quyết nghị 1. Đại quát đặc điểm tình hình Quyết nghị số 15/2008/QH12 của Quốc hội điều chỉnh địa giới hành chính thị thành Hà Nội trên cơ sở hợp nhất quơ diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã: Đông Xuân, Tiến Xuân, thái bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích 3.328,89 km 2 - gấp 3 lần so Thành phố Hà Nội cũ, dân số khoảng 6.232.940 người, gồm 29 quận, huyện, thị xã và 577 xã, phường, thị trấn. 1.1. Tiện lợi căn bản - Sau mở mang địa giới hành chính, Hà Nội có quy mô về diện tích đất đai, dân số cần lao lớn, tiền đề phát triển kinh tế tầng lớp, tạo điều kiện xây dựng phát triển Thủ đô hiện đại, theo hướng công nghiệp hóa đương đại hóa. - Thực hiện quyết nghị của Quốc hội, Hà Nội tiếp tục được sự quan tâm, lãnh đạo luôn, trực tiếp của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ; sự phối hợp viện trợ của các Bộ, ngành Trung ương, của các nhà trí thức, nhà khoa học và sự ủng hộ, động viên to lớn của quần chúng. # Cả nước. - Đảng bộ, chính quyền và các tổ chức đoàn thể chính trị tầng lớp Thủ đô Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, thái hoà, Yên Trung giàu truyền thống cách mạng, có tinh thần đoàn kết; chủ động, sáng tạo, đổi mới; có ý thức tổ chức kỷ luật và ý thức trách nhiệm cao tạo nên sự đồng thuận, hợp nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Quốc hội một cách nghiêm trang và hiệu quả. 1.2. Khó khăn, thách thức - Quy mô diện tích, dân số, đơn vị hành chính tăng nhanh sẽ khó khăn trong việc tập trung lãnh đạo chỉ đạo công việc; tỷ trọng nông nghiệp tăng, tỷ lệ hộ nghèo còn lớn, đời sống của một bộ phận dân cư vùng xa trung tâm thị thành, vùng miền núi còn khó khăn, cơ sở vật chất về giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện chưa đáp ứng đề nghị…đòi hỏi sự tập hợp lãnh đạo, chỉ đạo, nguồn lực đầu tư để giải quyết trong các năm tới. - Việc thống nhất toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Hà Nội, Hà Tây và các địa phương có hệ trọng với khối lượng công việc phải thực hiện rất lớn, nhiều nội dung phức tạp đan xen cần phải thực hiện như: Quy hoạch phát triển kinh tế từng lớp, quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, các quy hoạch chi tiết xây dựng; hệ thống cơ chế chính sách khác nhau can hệ đến quyền lợi bổn phận của tổ chức, thói quen cũ, mức sống của công dân các khu vực khác nhau cần thống nhất lại… - Trước khi hợp nhất, các địa phương vừa hoàn tất việc sắp đặt tổ chức bộ máy và cán bộ theo Nghị định số 13 và 14 của Chính phủ; sau thống nhất số lượng cán bộ, công chức, nhân viên trong hệ thống chính trị, các tổ chức đoàn thể và bộ máy hành chính các cấp có số lượng đông, chất lượng không đồng đều (hơn 100 ngàn người) tiếp phải tiến hành ngay việc bố trí, xếp đặt, phân công công tác, thẩm tra tổ chức cán bộ cho ăn nhập với tình hình mới. Trụ sở làm việc của các cơ quan phân tán, không tụ tập cần bố trí lại ảnh hưởng đến việc đi lại của cán bộ, công chức, nhân viên và giải quyết công việc... - Hà Nội phải đối mặt với khó khăn khách quan ngay sau khi thống nhất như thiên tai, dịch bệnh; suy giảm kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và đầu tư. 2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Ngay khi có chủ trương mở rộng địa giới hành chính, các cơ quan đảng, chính quyền đã triển khai những công việc có tính thúc bách, đảm bảo hoạt động quản lý quốc gia, các giao dịch và thủ tục hành chính diễn ra thường nhật và có tiến bộ hơn trước. 2.1. Công tác tuyên truyền, phổ thông, quán triệt, triển khai thực hành Nghị quyết A. Quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể: Ngay từ tháng 3/2008, BCH Đảng bộ thành thị Hà Nội và tỉnh Hà Tây đã chủ động tổ chức Hội nghị quán triệt nội dung kết luận của Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng khóa X, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương mở rộng địa giới hành chính Thủ đô tới các cấp ủy và hàng ngũ cán bộ cốt lõi các cấp, các ngành, đoàn thể tỉnh thành. Thực hiện kết luận của các hội nghị BCH Đảng bộ, HĐND tỉnh thành Hà Nội và tỉnh Hà Tây đã tổ chức kỳ họp thất thường, phê chuẩn Nghị quyết về việc điều chỉnh, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, với tỷ lệ 100% đại biểu dự họp đồng tình. Ngay sau khi Quốc hội ban hành quyết nghị số 15, Thành ủy Hà Nội, và tỉnh Hà Tây đã tổ chức họp, quán triệt tới toàn thể đội ngũ cán bộ mấu chốt về ý nghĩa, mục đích, tầm quan trọng bàn kế hoạch khai triển thực hiện quyết nghị. Đồng thời, xác định những nội dung trọng tâm trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng bộ để thực hành quyết nghị của Quốc hội. Làm tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng. #; Nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác tổ chức cán bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp đặt bộ máy khi tiến hành thống nhất. B. Ban hành chỉ thị, kế hoạch hướng dẫn tổ chức thực hiện quyết nghị: Cứ Thông báo số 163-TB/TW, Quyết định số 168/QĐ-TW ngày 23/6/2008 của Bộ Chính trị; Kế hoạch số 01/KH-BCĐTW của ban chỉ đạo Trung ương về sắp xếp tổ chức cán bộ của Hà Nội sau điều chỉnh địa giới hành chính và chỉ thị 260/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện chủ trương mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, tỉnh thành đã khẩn trương ban hành chỉ thị, kế hoạch và chỉ dẫn triển khai thực hành Nghị quyết. Thành ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể thành thị đã ban hành các chỉ thị hướng dẫn các đơn vị trong hệ thống thực hiện các nhiệm vụ để tổ chức thực hành quyết nghị 15 của Quốc hội, chú trọng công tác thẩm tra, bố trí sắp xếp lại tổ chức bộ máy và cán bộ; quản lý tài sản, tài chính, con dấu và hồ sơ tài liệu; bố trí sắp đặt trụ sở, phương tiện làm việc… C. Tích cực tuyên truyền tạo đồng thuận trong các tầng lớp quần chúng. # Thủ đô và dư luận xã hội Công tác quán triệt, phổ biến và tuyên truyền việc thực hành Nghị quyết 15 được đặc biệt coi trọng, tổ chức nghiêm trang, hiệu quả đã tạo ra không khí háo hức, đồng thuận cao, đoàn kết trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên và các từng lớp quần chúng Thủ đô và dư luận xã hội. Thị thành đã chủ động phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền hình của Trung ương và địa phương; sử dụng cổng giao du điện tử của thành thị và màng lưới phát thanh, truyền hình, truyền thanh cơ sở để tuyên truyền chủ trương, mục đích, ý nghĩa, bổn phận và tầm quan yếu của việc mở mang địa giới hành chính đến toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng Thủ đô và quần chúng cả nước. Đã tổ chức quán triệt, tuyên truyền, đưa tin về các quyết nghị, chỉ thị, kế hoạch, quyết định của Thành phố trong việc lãnh đạo, chỉ đạo các nội dung khai triển thực hiện Nghị quyết. Đưa tin về sự quan hoài, chăm lo kịp thời của chính quyền và nhân dân Thủ đô đối với nhân dân vùng bị thiên tai, dịch bệnh, quần chúng. # Vùng xa trọng tâm tỉnh thành và dân tộc thiểu số, các gia đình có công, bà mẹ Việt Nam anh hùng và các đối tượng chính sách, các hộ nghèo nhất là vào các dịp lễ tết sau hợp nhất. Tuyên truyền, đưa tin về những thành tựu đạt được trong những năm đổi mới của các địa phương; về tiềm năng, các giá trị văn hóa lịch sử truyền thống, văn hóa cách mạng; truyền thống lịch sử quang vinh của dân chúng Thủ đô, tỉnh Hà Tây và các địa phương có can dự. Từ đó, tạo không khí nô nức cho quần chúng ngay từ ngày đầu hợp nhất. 2.2. Tiếp thụ bàn giao và quản lý địa giới hành chính Khởi hành từ thực tại và nguyện vọng của quần chúng. # Địa phương, tỉnh thành đã trình Chính phủ và được ưng ra quyết nghị số 19/2009/NQ-CP về thành lập quận Hà Đông và thị xã Sơn Tây; song song xác lập chính thức địa giới hành chính của huyện Mê Linh và 4 xã của tỉnh Hòa Bình bàn giao về Hà Nội theo quyết nghị của Quốc hội. Thị thành chủ động thẩm tra các điểm tranh chấp về địa giới hành chính, chưa thống nhất được ranh giới trên thực địa, chưa ký kết được hồ sơ địa chính của các đơn vị hành chính giữa Hà Nội với Hòa Bình, Hà Nam và Vĩnh Phúc; đồng thời chỉ đạo cơ quan chuyên môn chuẩn bị hồ sơ tài liệu để bẩm Bộ Nội vụ, Chính phủ giải quyết theo quy định của luật pháp. 2.3. Công tác sắp đặt, tổ chức bộ máy và quản lý hành chính, rà soát các văn bản quy phạm luật pháp Trên nguyên tắc thống nhất nguyên trạng, thành thị quyết định hợp nhất, xác định lại chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan Đảng, Chính quyền, MTTQ và các tổ chức đoàn thể. Do quy định phân bổ biên chế đối với cấp huyện của các địa phương khác nhau, Thành phố xác định nguyên tắc không giao tăng biên chế cho các sở, ngành, nhưng giao bổ sung tăng biên chế cho cấp huyện thuộc tỉnh Hà Tây để thực hành tốt đề nghị, nhiệm vụ quản lý trong tình hình mới. Đồng thời, thực hiện theo đúng quan điểm chỉ đạo của Trung ương về công tác cán bộ, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy đề nghị công việc, lợi. Của người dân và chất lượng cán bộ là thước đo khi bố trí cán bộ, tránh tư tưởng cục bộ địa phương. Thị thành chủ động kết hợp với Bộ Công an, chỉ đạo Công an tỉnh thành khẩn trương triển khai công tác cấp đổi con dấu, cấp đổi công nhận, ưu tiên triển khai đối với các cơ quan đơn vị hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Việc quản lý nhân hộ khẩu, chứng minh thư quần chúng, biển số xe được thực hành quản lý theo phương án linh hoạt và hiệu quả. Ngay sau hợp nhất, quờ quạng các cơ quan thị thành đã được bố trí sắp xếp trụ sở. Hội sở của các cơ quan được bố trí tương đối hợp lý trên cơ sở thuộc tính công việc được giải quyết ngay, bảo đảm thuận lợi cho tổ chức và quần chúng. # Trong các giao dịch hành chính. Thị thành đã chỉ đạo các sở, ban, ngành và đơn vị có liên tưởng bố trí, sắp xếp dụng cụ ô tô buýt đưa đón cán bộ, công chức, nhân viên nhằm tạo điều kiện và đáp ứng nhu cầu đi lại đồng thời góp phần giảm thiểu lượng xe dự liên lạc trên tuyến đường chính từ Hà Đông – Hà Nội và ngược lại. Công tác cán bộ tiếp chuyện được kiện toàn. Đã thực hiện luân chuyển trên 130 lượt cán bộ thuộc diện Thành ủy quản lý về làm bí thư, phó bí thơ; giới thiệu để HĐND bầu chủ tịch, phó chủ tịch UBND các quận, huyện, thị xã. Cán bộ luân chuyển trở lại vị trí cũ và cán bộ điều động vị trí mới đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đã thi tuyển, xét tuyển 2.248 công chức hành chính, 2.189 công chức cấp xã, trên 22 nghìn nhân viên các đơn vị sự nghiệp. Tổ chức các lớp bổ dưỡng về kiến thức quản lý nhà nước, nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ, công chức, viên chức. Thành thị đã chỉ đạo các ngành khẩn trương thẩm tra, phân loại các văn bản quy định do các địa phương trước khi thống nhất ban hành để thay thế bằng văn bản quy định mới thống nhất trên toàn thành thị, trong đó có kế thừa cơ chế chính sách cũ và từng bước thực hiện chính sách mới trên địa bàn đô thị. Kết quả soát được 1.482 văn bản quy phạm (trong đó Hà Nội có 1.304, Hà Tây có 178) gồm: 80 Nghị quyết, 1.262 quyết định, 140 Chỉ thị. Tính đến năm 2009, đô thị đã ban hành 203 văn bản quy phạm luật pháp (trong đó có 170 quyết định và 33 chỉ thị, Nghị quyết) trên các lĩnh vực để phục vụ công tác quản lý, điều hành của Thủ đô trong tình hình mới, địa bàn mới. 2.4. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế tầng lớp, triển khai xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển Thủ đô Tập hợp chỉ đạo khắc phục hậu quả trận lụt lớn cuối năm 2008, khắc phục hậu quả, hạn chế tối đa các thiệt hại do lũ lụt gây ra, tổ chức lại sản xuất, tương trợ và ổn định đời sông nhân dân vùng bị ngập lụt. Lãnh đạo chỉ đạo xây dựng kế hoạch, triển khai thực hành các nhiệm vụ phát triển kinh tế từng lớp Thủ đô, xây dựng đảng và hệ thống chính trị hàng năm sau mở mang địa giới hành chính. Đã tổ chức rà soát 642 đồ án, dự án, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép tiếp tục triển khai 329 đồ án, dự án đầu tư thích hợp với quy hoạch Hà Nội mở rộng. Hoàn thành việc rà, đề xuất cho dừng, giãn và hoãn, chuyển đổi mục đích đầu tư các dự án không hiệp quy hoạch. Triển khai ngay vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và cơ chế chính sách phát triển Thủ đô: - Ngay từ những ngày đầu hợp nhất, thị thành đã kết hợp với các bộ, ngành Trung ương khai triển nghiên cứu, xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”; “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; "Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050"; Quy hoạch sử dụng đất Thành phố đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015). - Phối hợp với các cơ quan Trung ương nghiên cứu, xây dựng Luật Thủ đô và đã được Quốc hội thông qua. - Tổ chức đánh giá thực hành Nghị quyết 15-NQ/BCT của Bộ Chính trị và trình Bộ Chính trị ra quyết nghị về phương hướng phát triển Thủ đô Hà Nội. - Chuẩn bị chương trình, kế hoạch và tổ chức đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội nhằm suy tôn khí phách anh hùng, truyền thống văn hiến của Thủ đô 1000 năm tuổi, góp phần nâng cao vị thế của Thủ đô, giang san với nhân dân và bạn bè quốc tế. II. KẾT QUẢ chính yếu ĐẠT ĐƯỢC SAU 5 NĂM thực hành Nghị quyết 1.Về phát triển kinh tế: 1.1. Kinh tế tiếp chuyện tăng trưởng với tốc độ cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành dịch vụ, công nghiệp xây dựng, nông- lâm - thủy sản phát triển toàn diện Tăng trưởng GRDPtuổi 2008-2012 bình quân đạt 9,45%/năm. Trong đó, dịch vụ tăng 7,96%, công nghiệp - xây dựng tăng 9,32%, nông nghiệp tăng 0,4%. GRDP năm 2012 (theo giá một mực 1994) đạt 88.157 tỷ đồng, gấp 1,43 lần so năm 2008. Thu nhập tính theo GRDP theo đó tăng lên, bình quân đầu người năm 2012 đạt 2.257 USD/người, gấp 1,33 lần so năm 2008 (1.697 USD/người). Kinh tế của Thủ đô luôn đạt mức tăng gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng tăng, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm. Nếu cơ cấu năm 2008 là: dịch vụ 52,1%; công nghiệp - xây dựng 41,4%; nông nghiệp 6,6%, thì năm 2012 cơ cấu các ngành tương ứng là: 52,6%; 41,8% và 5,6%. Các ngànhdịch vụcó giá trị gia tăng lớn, trình độ cao, chất lượng cao tiếp tục được phát triển. Ngành nhà băng duy trì tốt việc huy động vốn đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, huy động vốn năm 2012 gấp 2 lần năm 2008, tăng nhàng nhàng hàng năm 18,3%, dư nợ cho vay cũng tăng ứng tăng 2,5 lần, nhàng nhàng hàng năm tăng 26,2%. Các dịch vụ nhà băng nối được phát triển, đặc biệt là tính sổ điện tử liên nhà băng, chuyển tiền điện tử, dịch vụ nhà băng tự động, dịch vụ thẻ, đặc biệt là thẻ quốc tế Visa, Master, JCB và các điểm ATM, điểm chấp thuận thẻ thanh toán (POS) cũng tăng lên rất nhanh. Ngành thông tin truyền thông có bước phát triển nhanh, số cơ sở sản xuất kinh dinh dịch vụ năm 2011 gấp 1,7 lần so năm 2008, doanh thu dịch vụ thông báo truyền thông tăng gấp 9 lần. Lĩnh vực thương mại tiếp chuyện được chú trọng phát triển. Hạ tầng thương mại được đầu tư. Trong 5 năm đã hoàn tất đưa vào sử dụng 16 trọng điểm thương mại, 81 siêu thị và 33 chợ các loại (đến nay, trên địa bàn có 25 trọng điểm thương mại, 121 siêu thị và 414 chợ). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ duy trì tăng trưởng khá, trung bình hàng năm tăng 23%. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 10,5%/năm, trong đó, xuất khẩu địa phương tăng 13,3%/năm. Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 1,1%/năm. Kim ngạch du nhập tăng thấp hơn xuất khẩu, nhập siêu được kiểm soát. Hạ tầng du lịch được đầu tư phát triển. Trong 5 năm vừa qua đã hoàn thành đưa vào xây dựng khoảng 2.500 phòng khách sạn, với công suất dùng phòng duy trì ở mức khá cao (trên 60%). Hà Nội duy trì là điểm đến của khách du lịch và là trung tâm của khu vực đồng bằng sông Hồng. Số lượt khách du lịch Hà Nội hàng năm tăng 6,3%, trong đó, khách quốc tế chiếm 1,5% tổng lượng khách, khẳng định Hà Nội vẫn là nơi cuốn khách du lịch quốc tế lớn so với các Thành phố trong khu vực. Lĩnh vựccông nghiệpđược đấu phát triển: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 2012 gấp 1,62 lần với năm 2008, bình quân tăng trưởng giai đoạn 2008-2012 đạt 12,97%. Trên địa bàn Hà Nội có 08 khu công nghiệp đã và đang hoạt động diện tích trên 1.230 ha, tỷ lệ lấp đầy diện tích đạt 98%. Năm 2013 có thêm 02 khu công nghiệp mới đi vào hoạt động: Khu công viên Công nghệ thông báo Hà Nội có diện tích 36 ha cuộn các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội với diện tích tuổi I là 72 ha đã được khởi công xây dựng hạ tầng cuộn dự án đầu tư các ngành công nghiệp phụ trợ. Các khu công nghiệp mới với hạ tầng đồng bộ, hiện đại sẽ là điểm giao hội của các nhà đầu tư nước ngoài trong năm 2013 và những năm tiếp theo. Đã đầu tư xây dựng 107 cụm công nghiệp với tổng diện tích 3.192 ha, tăng 5 cụm và tăng 2,8% về diện tích so với năm 2008. Các ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn và các ngành có trình độ công nghệ cao tiếp tục được chú trọng phát triển, giao hội vào Chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực (SPCNCL). Đến nay, số SPCNCL là 57 sản phẩm của 48 doanh nghiệp thuộc các ngành cơ khí - điện tử, hóa nhựa, dệt may - da giầy, chế biến lương thực, thực phẩm… Đến hết năm 2012, có 1.350 làng nghề và làng có nghề (bằng 59% tổng số làng). Tuổi 2008-2012, ngànhxây dựngtăng trưởng liên tiếp, giá trị tăng thêm đạt trung bình 10,57%/năm. Nhiều công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, công trình liên lạc, khu tỉnh thành, được đầu tư và đưa vào sử dụng, góp phần hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh vấn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng các ngành sinh sản và dịch vụ. Tổng diện tích nhà ở xây mới tính đến hết tháng 6/2013 đạt 12,6 triệu m 2 . Nhiều khu thành thị mới đương đại được đầu tư xây dựng: Ciputra, Linh Đàm, Việt Hưng... Sinh sản nông nghiệp: Giá trị sinh sản nông lâm thủy sản năm 2012 gấp 1,8 lần năm 2008. Năm 2012, giá trị sản xuất đạt 199 triệu/ha canh tác, cao gấp 1,63 lần năm 2008. Cơ cấu sinh sản nông nghiệp chuyển dịch hăng hái. Tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp tăng dần, đạt 51,54% năm 2012; trồng tỉa, lâm nghiệp là 43,93%; dịch vụ nông nghiệp là 3,53%; năm 2008 cơ cấu tương ứng là 46,5%; 51,61% và 1,9%. Cơ cấu cây trồng dịch chuyển theo hướng hiệu quả; diện tích trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả đặc sản tiếp kiến được mở rộng. Một số vùng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa tập hợp với năng suất và giá trị thu nhập được hình thành: vùng sinh sản lúa chất lượng cao, vùng sản xuất rau an toàn, vùng trồng cam canh, bưởi diễn, vùng chăn nuôi gia cầm, bò thịt, bò sữa tụ hợp tại các huyện Đông Anh, Từ Liêm, Hoài Đức, Đan Phượng, Ba Vì, Thanh Trì, Mê Linh… vận dụng kỹ thuật, công nghệ tiền tiến vào sản xuất được coi trọng. Giờ 100% giống lúa được cấp I hóa; 100% diện tích ngô được gieo trồng bằng giống lai; 75% là lợn ngoại và lợn hướng nạc; 70% đàn bò là lai sin... 1.2. Thu ngân sáchtrên địa bàn thời đoạn 2008-2012 liên tục đạt và vượt dự toán, bình quân hàng năm đạt 106.880 tỷ đồng, tăng nhàng nhàng 19,2%/năm. Năm 2012 thu ngân sách đạt 146.331 tỷ đồng gấp 2 lần năm 2008; Chi ngân sách địa phương nhàng nhàng đạt 57.117 tỷ đồng/năm, tăng bình quân 14,1%/năm, năm 2012 chi ngân sách gấp 1,7 lần so với năm 2008. Nhìn chung sau khi Thủ đô Hà Nội được mở rộng, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách nhưng kết quả thu, chi ngân sách luôn bảo đảm được dự toán Trung ương và HĐND Thành phố giao và bảo đảm được tự cân đối và nộp ngân sách Trung ương. Kết quả này đã góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế - từng lớp Thủ đô mở rộng và cả nước. 1.3. Huy động vốn đầu tư trên địa bàn được đẩy mạnh:Năm 2012 tổng vốn đầu tư từng lớp đạt 232.659 tỷ gấp 1,87 lần so năm 2008. Trong đó vốn quốc gia tăng gấp 2,4 lần, vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,5 lần. Đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2008-2012 vấn được 1.474 dự án với số vốn đăng ký 9.028 triệu USD, bằng 55% về số dự án và 41,7% về vốn đầu tư lũy kế từ thời điểm cho phép đầu tư nước ngoài đến nay. Trong thời gian từ 2008-2012, đã có hơn 80.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với số vốn khoảng 1.140 nghìn tỷ đồng. 1.4. Vai trò vị trí kinh tế Thủ đô đóng góp ngày một lớn so với cả nước: Năm 2012, với dân số chiếm 7,84%, thị thành Hà Nội đã đóng góp 10,06% GDP, 9% kim ngạch xuất khẩu; 13,5% giá trị sản xuất công nghiệp; 23,5% vốn đầu tư phát triển, 19,73% thu ngân sách (trong đó, thu nội địa đóng góp 26,67%) và 23,5% tổng vốn đầu tư tầng lớp của cả nước. Kinh tế Thủ đô xứng đáng giữ vị trí đầu tầu và là động lực phát triển kinh tế khu vực phía Bắc và ngày một giữ vị trí quan trọng đối với kinh tế của cả nước. 2. Phát triển văn hóa – tầng lớp 2.1. Về văn hóa thể thao: Phong trào “Toàn dân kết đoàn xây dựng đời sốngvăn hóaở khu dân cư”, các mô hình gia đình văn hóa, làng thôn bản văn hóa, tổ dân phố và đơn vị văn hóa tiếp kiến phát huy vai trò tích cực. Năm 2010, thành thị Hà Nội đã tổ chức thành công Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, tạo ấn tượng tốt trong quần chúng cả nước và bạn bè quốc tế. Những giá trị truyền thống tốt đẹp của Thăng Long - Hà Nội qua 1.000 năm lịch sử văn hiến - anh hùng - hòa bình và hữu nghị được tôn.Nhiều công trình văn hóa, thể thao lớn đã hoàn thành kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội: Bảo tàng Hà Nội, Thư viện Hà Nội, Rạp Đại Nam, Cung thi đấu án thể thao trong nhà,… Công tác giữ giàng, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội, đặc biệt là các di sản văn hóa được khai triển tích cực. Nhiều giá trị văn hóa đã được phục dựng, sửa sang và đưa vào phá hoang. Một số di sản đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới, di sản văn hóa nhà nước. Đã được UNESCO xác nhận: Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa, Hội Dóng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt, 82 bia đá các khoa thi tiến sỹ thời kỳ Lê Mạc được công nhận là di sản tư liệu văn hóa thế giới. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và những phong tục tập quán tốt đẹp của văn hóa Tràng An, văn hóa xứ Đoài càng ngày càng được phát huy. Trong hoạt độngthể thaothành tích cao, Hà Nội tiếp kiến gặt gái nhiều thành công. Đã tổ chức thành công Indoor Games với quy mô lớn và đạt được nhiều giải thưởng cao. Thành thị đang chuẩn bị các điều kiện để hướng tới ASIAD 18 tổ chức tại Hà Nội năm 2019. Nhiều hoạt động thể thao quần chúng, dân gian, thể thao truyền thống gắn với các lễ hội diễn ra sôi nổi và rộng khắp. 2.2. Giáo dục đào tạo: Giáo dục và đào tạo được chú trọng đầu tư, chất lượng được giữ vững:Các quy hoạch chính yếu phát triển ngành giáo dục – đào tạo đã được ưng chuẩn. Cơ sở vật chất trường học, nhất là thuộc địa bàn mở mang được quan hoài đầu tư. Đã hoàn tất xóa phòng học tạm, phòng học cấp 4 nguy hiểm, xây dựng hệ thống nhà vệ sinh, cải tạo hệ thống điện cho các trường. Trong 5 năm qua, đã xây mới, thay thế 5.523 phòng học tạm, cấp 4 xuống cấp; 1.108 phòng học văn hóa, 1.071 phòng học bộ môn. Đã giao hội đầu tư nhiều công trình trọng điểm như: Trường chuyên Hà Nội - Amsterdam; trường THPT chuyên Nguyễn Huệ; trường Trung cấp đa ngành Sóc Sơn tại huyện Sóc Sơn. Số trường đạt chuẩn nhà nước tăng đáng kể. Tính đến tháng 6/2013, tăng 339 trường so với năm 2008, nâng tổng số trường đạt chuẩn nhà nước là 768 trường, đạt tỷ lệ 32,1%. Hà Nội có quy mô lớn hàng đầu cả nước, đi đầu trong phổ cập giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục trung học phổ biến. Số trẻ 5 tuổi đến trường đạt 99,6%; 100% trẻ được học 2 buổi/ngày; 500/687 trường tiểu học tổ chức học 2 buổi/ngày; 100% xã, phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 83% số đối tượng trong độ tuổi hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học; 100% cha đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó, trên chuẩn đạt 42%; 100% các trường được kết nối mạng Internet; đay nghiến có trình độ tin học đạt 65%. Hà Nội duy trì dẫn đầu cả nước trong các kỳ thi học trò giỏi nhà nước tổ chức hàng năm và đóng góp nhiều giải thưởng quốc tế. 2.3. Khoa học – công nghệ: Các hoạt động khoa học - công nghệ tiếp chuyện được chú trọng phát triển. Thời đoạn 2008- 2013, đã giám định công nghệ 162 hồ sơ dự án đầu tư trong các lĩnh vực: xử lý chất thải, hiện đại hóa các cơ sở y tế, các dây chuyền chế biến thực phẩm. Đã cấp giấy chứng nhận đăng ký 16 hợp đồng chuyển giao công nghệ, viện trợ kỹ thuật; cấp mới giấy chứng thực hoạt động khoa học – công nghệ cho 136 tổ chức; song song, giúp các cá nhân chủ nghĩa, tổ chức, các doanh nghiệp và địa phương xây dựng thương hiệu, nhãn hàng hóa, nhãn tập thể và chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm truyền thống nhằm nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm. Trong 5 năm, đã tổ chức chỉ dẫn, tham mưu xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho trên 230 tổ chức và cá nhân chủ nghĩa trên địa bàn. Tương trợ hăng hái trong việc áp dụng tiêu chuẩn ISO. Đến nay đã có 112 cơ quan hành chính nhà nước được cấp Giấy chứng thực quản lý chất lượng hợp TCVN ISO 9001:2000, khoảng 40 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh dinh được tương trợ áp dụng hệ thống quản lý tiền tiến ISO 14.000 và 22.000. Khoa học và Công nghệ đích thực trở nên đòn bẩy, động lực, góp phần quan yếu vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. 2.4. Y tế: Lĩnh vực y tế tiếp chuyện được quan tâm:Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được duyệt. Hệ thống y tế cơ sở không ngừng được củng cố, hoàn thiện cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ. Thời đoạn 2009-2013, đã đầu tư 3.186 tỷ đồng nâng cấp, mở mang các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế xã/phường, trong đó, đặc biệt ưu tiên các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 294 tỷ đồng để trang bị thiết bị cho tuyến y tế cơ sở bảo đảm Chuẩn nhà nước về y tế. Đến nay, 126 dự án đầu tư đã hoàn tất đưa vào dùng, bổ sung 1.090 giường bệnh, nâng cấp 1.050 giường bệnh. Đã có thêm 133 xã/phường được xác nhận chuẩn quốc gia về y tế, nâng số xã/phường đạt chuẩn nâng lên 570, đạt tỷ lệ 98,8% (năm 2008 đạt 76%). Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ tăng từ 86% năm 2008 lên 90% năm 2012. Chất lượng y tế cộng đồng và chăm sóc sức khỏe quần chúng. # Tăng lên. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 12,3‰ (năm 2008 là 12,7‰); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm còn 7,5% (năm 2008 là 8,9%); trẻ thơ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 10,5% (2008 là 15%). Tỷ lệ bác sỹ/10.000 dân tăng từ 9,7 lên 11,2; số giường bệnh/1 vạn dân tăng từ 12 lên 15. Công tác khám chữa bệnh coi ngó sức khỏe quần chúng trên địa bàn có nhiều chuyển biến rõ nét. Chất lượng điều trị, chăm chút, phục vụ người bệnh được nâng cao, đặc biệt đối với hệ thống bệnh viện tuyến huyện. Các bệnh viện tuyến thành thị không ngừng học hỏi khai triển một số kỹ thuật mới [1] . 2.5. An sinh xã hội: An sinh xã hội được đặc biệt quan hoài.Thành phố đã phát động phong trào “Đền ơn đáp nghĩa" đối với các gia đình cách mạng và thân nhân. Giai đoạn 2008-2012, ngân sách đã hỗ trợ xây, sửa 3.296 nhà ở với kinh phí 100 tỷ đồng (trong đó, xây mới 1.133 nhà, tu sửa 2.163 nhà); vận động Quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" 126 tỷ đồng và thực hiện từng lớp hóa "Đền ơn đáp nghĩa" thời đoạn 2008-2012 là 547 tỷ đồng; tặng 27.175 sổ tiết kiệm "nghĩa tình" kinh phí 19,9 tỷ đồng; sang sửa nâng cấp 474 công trình ghi công liệt sĩ kinh phí 301 tỷ đồng; tổ chức điều dưỡng 136.383 lượt người có công với cách mạng. Tỉnh thành hăng hái thực hành Chương trình mục tiêu nhà nước giải quyết việc làm, thực hiện Kế hoạch tầng lớp hóa dạy nghề thời đoạn 2008 – 2010, Kế hoạch “Dạy nghề cho cần lao nông thôn tỉnh thành Hà Nội đến năm 2020”, Đề án phát triển thị trường lao động đến năm 2020, Chương trình giải quyết việc làm tỉnh thành Hà Nội tuổi 2010-2015,... Bình quân mỗi năm tuổi 2008-2012, vay giải quyết việc làm duyệt Quỹ quốc gia giải quyết việc làm 273 tỷ đồng, giải quyết cho trên 23 nghìn cần lao. Trung bình, giải quyết việc làm cho trên 133 nghìn lượt cần lao/năm. Kế hoạch thực hành chương trình đíchgiảm nghèothành thị thời đoạn 2011-2015 được khai triển hăng hái. Làng nhàng hàng năm, tương trợ trên 20.000 hộ thoát nghèo, song song, thẳng tắp nâng chuẩn nghèo và các mức hỗ trợ. Giai đoạn 2008-2012, tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm 1,5-2%, đến cuối năm 2012 còn 3,55% với 59.365 hộ. Năm 2013, ước thực hành tương trợ 16.500 hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn 2,35%. Chuẩn nghèo và một số mức trợ cấp cho đối tượng bảo trợ tầng lớp được nâng lên và cao hơn mức chung toàn quốc. 2.6. Công tác dân tộc, đạo: Thành phố đã ban hành và thực hành Kế hoạch phát triển kinh tế tầng lớp vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi tuổi 2009 – 2012, Kế hoạch phát triển kinh tế - từng lớp vùng đồng bào dân tộc miền núi thời đoạn 2013 – 2015. Tổng số có 186 dự án, công trình đầu tư, khai triển trên địa bàn 13 xã và 01 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, tập kết chủ yếu các lĩnh vực: cấp nước, cấp điện, thủy lợi, liên lạc nông thôn, giáo dục, y tế, văn hóa thể thao. Tổng kinh phí dự kiến đầu tư là 2.012 tỷ đồng, năm 2013 đã phân bổ 163 tỷ đồng cho 40 dự án. 3.Công tác xây dựng chiến lược và lập quy hoạch được chú trọng, kết cấu hạ tầng kỹ thuật được tụ họp đầu tư xây dựng, quản lýthành thị,bảo vệ môi trườngđược tăng cường, bộ mặt thành thị và nông thôn ngày một đổi mới 3.1. Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, xây dựng cơ chế chính sách phát triển Thủ đô: Chiến lược phát triển kinh tế từng lớp, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế từng lớp, quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đã được Thủ tưởng Chính phủ duyệt. Các quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, quy hoạch kinh tế - tầng lớp huyện, thị xã đã được triển khai lập, thẩm định và trình ưng chuẩn. Đến nay, toàn bộ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các huyện, thị xã đã hoàn tất duyệt; quy hoạch ngành lĩnh vực căn bản đã hoàn tất và được thông qua. Các đồ án quy hoạch chung xây dựng huyện, thị trấn sinh thái, thành phố vệ tinh; 28 quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực. Đã tổ chức giám định 18/32 đồ án quy hoạch chung xây dựng, dự kiến sẽ thông qua trong quý III-IV/2013. Đã thông qua 10/31 quy hoạch phân khu, 07 đồ án phân khu khác đang xem xét. 27 quận, huyện, thị xã thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện. Luật Thủ đô đã được Quốc hội duyệt và có hiệu lực từ ngày 01/7/2013; các quy hoạch và chiến lược đã được Chính phủ thông qua và Thành phố đang triển khai thực hành. Thành phố đã tích cực chỉ đạo xây dựng cụ thể hóa các cơ chế, chính sách được quy định tại Luật Thủ đô. Đến nay, Thành phố đã cụ thể hóa và ban hành 11 cơ chế, chính sách quy định tại Luật Thủ đô triển khai thực hành trên địa bàn. 3.2. Kết cấu hạ tầng giao thông, thành phố được tập kết đầu tư: Hệ thống kết cấuhạ tầng giao thông, nhất là các công trình giao thông trọng điểm được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Đã hoàn tất nhiều công trình giao thông trung tâm, đặc biệt là các công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội: đường Láng – Hòa Lạc, cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, đường vòng đai 3 trên cao... Các công trình giao thông trung tâm được đẩy nhanh tiến độ: đường vành đai 1 (Ô Chợ Dừa – Hoàng Cầu), Quốc lộ 32, đoạn Cầu Diễn - Bưởi, Quốc lộ 1A đoạn Văn Điển - Ngọc Hồi... Thành thị đang tích cực chỉ đạo thực hành Kế hoạch xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng đương đại vào năm 2020, các dự án đầu tư trong điểm trên địa bàn đang đầu tư xây dựng như: đường đai 2 Nhật Tân - Cầu giấy, Đường 5 kéo dài, Cầu Nhật Tân, Cầu Vĩnh Thịnh, Đường Quốc lộ 3 Hà Nội - Thái Nguyên, đường cao tốc: Hà Nội - Lào Cai, Nhật Tân - Nội Bài, nhà ga Hàng không T2 Nội Bài; 3 tuyến đường xe điện thành thị… Hệ thống cấp thoát nước được quan tâm đầu tư, các công trình cấp nước được đầu tư mở mang, từng bước xây dựng hệ thống mạng cấp nước trong các khu thị thành và vùng ven nội. Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải được tăng cường, hoàn thành dự án thoát nước giai đoạn 1, đang khai triển thực hành giai đoạn 2; hệ thống xử lý nước thải Yên sở, Hồ Tây được tập trung đầu tư. Triển khai tích cực các khu xử lý rác chất thải rắn như Nam Sơn, Bắc Sơn, Sơn Tây, Chương Mỹ, Đan Phượng… 3.3. Công tác quản lý liên lạc, trật tự xây dựng được tăng cường: Thực hành tốt việc đảm bảo thứ tự an toàn giao thông, trật tự đô thị. Vấn đề ùn tắc liên lạc đã căn bản được khắc phục. Năng lực và chất lượng chuyên chở hành khách công cộng được nâng cao. Tai nạn liên lạc hàng năm đều giảm ở cả số vụ tai nạn và số người bị chết, bị thương. Công tác quản lý trật tự xây dựng tỉnh thành được quan hoài thực hiện. Công tác chấn chỉnh kỷ cương trong quản lýtrật tự xây dựngđô thị được khai triển quyết liệt, đồng bộ, có chuyển biến tích cực. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm sau cấp phép xây dựng tiếp kiến được chú trọng, thứ tự, kỷ cương xây dựng từng bước đi vào nền nếp. Tỷ lệ công trình xây dựng có giấy phép tăng dần qua từng năm, đến nay đạt trên 90%. Công tác chỉnh trang thành thị, chiếu sáng kiến trúc các công trình liên lạc, các khu dân cư được duy trì. Vi phạm trật tự đô thị tiếp chuyện được xử lý nghiêm. Công tácchỉnh trang, nâng cấp thành thị được khai triển đồng bộ. Nhiều vườn hoa, công viên được cải tạo, xây mới. Các công trình được xây mới: Công viên Hòa Bình, Yên Sở; Vườn hoa 01/6 (Nguyễn Lương Bằng), Hàng Trống (42 Nhà Chung), Cổ Tân…; cải tạo, chỉnh trang công viên hợp nhất, công viên Thủ Lệ, công viên Lê Nin, vườn hoa Lý tự tôn... Hoàn thành cải tạo một số hồ tại nội đô và có 12 hồ đang được khai triển xây dựng, cải tạo. Nhiều tuyến phố được chỉnh trang hạ tầng kỹ thuật đồng bộ; việc sắp đặt, hạ ngầm các tuyến đường dây, cáp nổi trên nhiều tuyến đường nội đô được triển khai hăng hái. Các dịch vụ tỉnh thành như cấp nước sạch, thu gom tải rác…được cải thiện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Tỉnh thành thường xuyên cập nhật, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý tài nguyên, đất đai và xử lý các vi phạm. Hăng hái thực hiện thanh tra, rà soát các dự án đã được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích dùng đất nhưng chậm triển khai. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được đẩy mạnh, đến nay tỷ lệ đạt trên 95% số thửa đất đủ điều kiện và đã kê khai xin cấp. 3.4. Các dự án đầu tư xây dựng khu tỉnh thành mới, nhà ở từng lớp được khai triển mạnh Đã và đang xây dựng thêm 370 dự án trọng điểm thương nghiệp, siêu thị lớn, văn phòng cao cấp, khách sạn đương đại... Với 17.765 ha, 520.700 căn hộ, 82,45 triệu m 2 , góp phần đáp ứng nhu cầu của quần chúng, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Xây dựng nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, xuống cấp được chú trọng và đạt kết quả bước đầu. Đã hoàn thành khu nhà ở công nhân tại khu Kim Chung (Đông Anh), Việt Hưng (Long Biên), khu nhà ở xã hội tại Đại Mỗ, Hà Đông. Triển khai 10 dự án nhà ở, ký túc xá cho khoảng 43.500 học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo khu đô thị mới Pháp Vân, Tứ Hiệp và khu thành thị mới Mỹ Đình II. Giai đoạn 2008-2012, diện tích nhà ở tăng thêm khoảng 15 triệu m 2 , bình quân 2-2,5 triệu m 2 /năm. Diện tích nhà ở bình quân năm 2012 đạt 21,5m 2 /người. Thị thành đang thực hành Chiến lược Phát triển nhà ở đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ. 3.5 Kết cấu hạ tầng nông thôn được đặc biệt quan hoài, xây dựng nông thôn mới đạt kết quả bước đầu quan yếu, khuân mặt nông thôn đổi mới một cách rõ rệt Thành thị đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn: Ngân sách đầu tư cho các huyện ngoại ô được tăng cường, kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường, bệnh viện, trạm y tế được đầu tư theo hướng chuẩn hóa. Tuổi 2008-2012 ngân sách cho đầu tư phát triển cấp huyện 2.303 tỷ, bình quân 461 tỷ/năm gấp 1,5 lần so năm 2008. Kết cấu hạ tầng cho khu vực nông thôn đã có bước phát triển nhanh. Trong 5 năm, đã cải tạo, xây mới hơn 4.000km đường liên lạc trên địa bàn các huyện. Hoàn thành xóa phòng học tạm, phòng học cấp 4; 100 % số xã có đường ô tô đến trụ sở xã; công trình nhà văn hóa, sân vận động thể thao ở nhiều nơi được đầu tư xây dựng khang trang, sạch đẹp. Tỷ lệ xã, thôn được lượm lặt rác thải đạt 98% (trước thống nhất là 72%). 100% số xã có điện lưới nhà nước, đặc biệt 13 xã chưa có điện đã được cấp điện ngay trong năm đầu hợp nhất. Đời sống nông dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Thu nhập nhàng nhàng của dân cư năm 2012 đạt 2,85 triệu đồng/người/tháng, cao gấp 2,2 lần năm 2008; trong đó, khu vực tỉnh thành đạt 4,1 triệu đồng/người/tháng, khu vực nông thôn đạt 1,98 triệu đồng/người/tháng. Nông thôn không còn nhà dột nát, phần nhiều các hộ gia đình có nhà chắc chắn, khang trang. Tỷ lệ hộ dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt trên 86%; tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo đạt 42%. Trên 90% số hộ gia đình có vô tuyến truyền hình; trên 95% số xã và 30% số thôn có máy tính kết nối Internet; 70% số hộ có điện thoại. Chương trình xây dựngnông thôn mới(NTM) đạt được kết quả bước đầu quan yếu: Đã có 100% huyện, thị xã lập xong đề án cấp huyện. Sờ soạng các xã đã hoàn thành duyệt y đề án và 400/401 xã đã hoàn tất quy hoạch xã NTM. Đến hết tháng 6/2013, có 236/401 xã đạt và cơ bản đạt 10-19 tiêu chí, trong đó, 27 xã đạt và căn bản đạt 19/19 tiêu chí; 91 xã đạt và căn bản đạt từ 14-18 tiêu chí; 133 xã đạt và cơ bản đạt từ 10-13 tiêu chí. Dự định đến hết năm 2013, có 62 xã đạt tiêu chí NTM. Công tác dồn điền đổi thửa được khai triển có hiệu quả đến nay đã thực hành được 35.178 ha bằng 45,3% tổng diện tích có khả năng dồn điền đổi thửa và 18,7% tổng diện tích đất sinh sản nông nghiệp. 4. Tình hình chính trị ổn định, an ninh, quốc phòng được củng cố, tăng cường Công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn tầng lớp được tụ hội chỉ đạo ngay từ những ngày đầu thống nhất, không để xảy ra các cảnh huống đột xuất, bất thần. Đã khai triển nhiều kế hoạch chuyên đề và các đợt cao điểm tiến công, trấn áp tù đọng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn từng lớp, nhất là trong các dịp kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, Đại hội Đảng các cấp, bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp, các hội nghị quốc tế lớn, các ngày lễ, tết… Đã xử lý, giải quyết kịp thời các tình huống phức tạp về đạo, các vụ tụ hội đông người trái phép, làm thất bại mọi mưu mô, hoạt động chống phá của các thế lực cừu địch trên địa bàn các quận, huyện. Đã tổ chức các tổ công tác 141 để trấn áp tầy, duy trì trật tự, an toàn từng lớp. Kết quả rất đáng ghi nhận, được dân chúng hoan nghênh. Phát hiện, phòng ngừa, đương đầu có hiệu quả với các loại tù túng hình sự, kinh tế, ma túy, tối.< sáng dạ từng lớp. Xử lý nghiêm các vi phạm về môi trường, vi phạm về kinh doanh, sản xuất nguyên liệu, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm,... Kịp thời nhận diện, phát hiện, chống chọi xử lý các loại tù đọng mới, tù nhân có nhân tố nước ngoài, phạm nhân lợi dụng công nghệ cao,… Hiệu quả điều tra, khám phá các vụ án hình sự, kinh tế, ma túy và môi trường được nâng cao, đặc biệt khám phá nhanh các vụ án nghiêm trọng. An ninh chính trị, trật tự an toàn từng lớp được giữ vững, quan tâm nhiều đến an ninh nông thôn. Công tác quốc phòng, quân sự địa phương tiếp tục được duy trì. Hàng năm hoàn tất chỉ tiêu giao quân, đảm bảo số lượng và chất lượng. Duy trì thẩm tra việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác giáo dục quốc phòng – an ninh, công tác quân sự của các trường trên địa bàn. Chỉ đạo đăng ký quân dịch, đăng ký bổ sung nam công dân trong độ tuổi gọi nhập ngũ, đăng ký bổ sung quân nhân dự bị, dân binh tự vệ,... Tổ chức ra quân huấn luyện hàng năm và tập huấn cán bộ các cấp; công tác giáo dục chính trị, phổ quát kiến thức pháp luật nâng cao nhận thức cho cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang Thủ đô;.... Tổ chức tổng kết 5 năm thực hành Nghị định 119/NĐ-CP và Chỉ thị 36/CT-TTg về công tác quốc phòng tại các cơ quan, đơn vị, địa phương; 10 năm công tác quốc phòng, an ninh ở cả 3 cấp; 10 năm thực hành quyết nghị Trung ương 8 khóa IX về “Chiến lược bảo vệ giang sơn trong tình hình mới”, 10 năm thực hiện công tác đào tạo cán bộ quân sự Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn (2003-2013) và 5 năm công tác quốc phòng, quân sự địa phương (2008-2013), sơ kết 5 năm “Xây dựng, hoạt động của khu vực phòng vệ”. Đầu tư xây dựng khu vực phòng vệ được đẩy mạnh. Duy trì tổ chức diễn tập khu vực phòng ngự cấp quận, huyện, diễn tập tranh đấu trị an xã, phường, thị trấn hàng năm. Thực hành tốt chính sách hậu phương quân đội. Ban chỉ đạo cứu hộ, cứu nạn được thành lập, sẵn sàng đối phó với mọi cảnh huống bất ngờ. 5. Công tác đối ngoại và cộng tác phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng Đô thị đã hăng hái, chủ động mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, từng lớp với Thủ đô các nước và các tổ chức quốc tế, nhất là trong dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đã ban hành các chính sách, chương trình, kế hoạch hành động để kinh tế Thủ đô phát triển nhanh và vững bền khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Tích cực kết hợp các cơ quan Trung ương mở mang cộng tác các Thủ đô trên thế giới; Hà Nội đã thiết lập quan hệ hiệp tác hữu hảo với gần 100 Thủ đô, thị thành của 50 nước và vùng bờ cõi, trong đó thiết lập quan hệ hợp tác chặt chịa, trực tính và có hiệu quả với 35 Thủ đô, tỉnh thành gồm các nước hàng xóm, các nước ASEAN, các nước châu Âu, Mỹ,…duy trì mối quan hệ thân thiết với hai nước bạn Lào, Campuchia. Thủ đô Hà Nội là thành viên chính thức của nhiều tổ chức quốc tế lớn, quan yếu như Hiệp hội các tỉnh thành lớn trên thế giới, mạng lưới các Thành phố lớn châu Á thế kỷ 21 (ANMC21), mạng lưới chính quyền địa phương Citynet,…Thành phố đã tích cực liên kết hợp tác, hỗ trợ phát triển các dự án đầu tư hạ tầng kinh tế - tầng lớp tại các tỉnh, đô thị bạn trong cả nước. Thực hành hăng hái các nội dung hợp tác vùng Kinh tế trọng tâm Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng. Vị thế và vai trò của Thủ đô với các địa phương cả nước và với các nước trong khu vực và trên thế giới được nâng lên đáng kể. Hà Nội là một trong ba địa phương đứng đầu cả nước về năng lực hội nhập kinh tế quốc tế [2] . 6. Hệ thống chính quyền, trận mạc giang sơn và các đoàn thể nhân dân các cấp đấu được củng cố kiện toàn, chất lượng hoạt động được nâng cao Hoạt động của HĐND các cấp ngày càng phát huy dân chủ, chất lượng, hiệu quả. Dân chủ trong các kỳ họp, tiếp xúc cử tri được phát huy hăng hái. Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hành quyết nghị của HĐND được tiến hành đồng bộ, có chất lượng, thích hợp yêu cầu thực tế và đem lại hiệu quả thiết thực. Công tác giám sát được trọng và thực hành bài bản phê chuẩn giám sát tại kỳ họp, giám sát theo chương trình hàng năm, giao hội vào việc thực hành chủ trương đường lối, chính sách của quốc gia, nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết HĐND, những lĩnh vực, vấn đề bức xúc được từng lớp, cử tri quan hoài. Công tác chỉ đạo, điều hành quản lý của UBND các cấp quyết liệt, sâu sát, cụ thể, có hiệu quả và tiến bộ hơn. Thực hành quyết liệt công tác phân cấp quản lý kinh tế từng lớp, canh tân hành chính được xác định là khâu đột phá và chỉ đạo quyết liệt, đã xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực hiện hợp nhất trên địa bàn Thành phố. Hàng năm, rà soát các thủ tục hành chính, đã ban hành bộ thủ tục hành chính của đô thị để hợp nhất thực hành. Thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông có chuyển biến tích cực. Công tác thanh tra, kiểm tra công vụ được tăng cường, kỷ cương hành chính trong hàng ngũ cán bộ, công chức, nhân viên tăng lên. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân được tăng cường hơn. Công tác cách tân tư pháp được quan tâm chỉ đạo, quan tâm cơ sở vật chất các cơ quan tư pháp, hệ thống trụ sở UBND cấp xã. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể quần chúng. # Đã có nhiều đổi mới theo hướng đa dạng, gần dân, thiết thực, nâng cao vai trò giám sát và phản biện tầng lớp; tụ hợp kết đoàn các tầng lớp quần chúng. # Trong việc thực hành các chủ trương của Đảng, luật pháp của quốc gia, thực hiện các đích phát triển kinh tế từng lớp, tham dự xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền các cấp. Công tác chiến đấu buồng tham nhũng, phung phí, thực hành hà tiện được giao hội chỉ đạo. Công tác xây dựng chấn chỉnh Đảng, gắn với khai triển thực hành cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được tổ chức thực hành đồng bộ và thu được những kết quả quan trọng. Thực hiện tốt việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo quyết nghị Trung ương 4 khóa XI, bước đầu có hiệu quả và chuyển biến nhanh cả nhận thức lẫn hành động thực tại. Công tác cán bộ được quan tâm chỉ đạo, thực hành tốt việc xếp đặt, kiểm tra cán bộ sau hợp nhất, công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển cán bộ lãnh đạo được thực hiện có kế hoạch, bài bản, có hiệu quả. Công tác xây dựng củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên được đẩy mạnh. Hăng hái rà soát, rà soát, đánh giá và kiện toàn củng cố tổ chức cơ sở Đảng tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước; công tác rà soát giám sát được tăng cường, công tác dân vận được quan tâm chỉ đạo và có chuyển biến tích cực. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng được tiếp đổi mới theo hướng mở rộng dân chủ, kỷ cương sát cơ sở, chỉ đạo giao hội, kiên quyết, dứt điểm, hiệu quả. Tỉnh thành đã chủ động xây dựng và phát động nhiều phong trào thi đua thiết thực được các từng lớp cán bộ, đảng viên, các từng lớp công nhân, lao động, lái buôn, trí thức Thủ đô đồng tình hưởng ứng, các bộ, ngành Trung ương, các tỉnh bạn đánh giá cao. Các phong trào thi đua "Người tốt, việc tốt" gắn với việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" lan tỏa trong quơ từng lớp dân cư tỉnh thành; phong trào thi đua "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới" được triển khai, nhân rộng với nhiều hình thức đa dạng phong phú; phong trào thi đua đạt danh hiệu "Nhà doanh nghiệp Hà Nội giỏi", "Cúp Thăng Long", "Sáng kiến, sáng tạo", "Công nhân giỏi Thủ đô" đã vấn đông đảo các cấp, các ngành tham gia và có bước phát triển mạnh mẽ, sâu rộng đến hầu hết các loại hình doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Thành phố. III. TỒN TẠI HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 1. Tồn tại, hạn chế và duyên do: A. Tồn tại hạn chế: - Kinh tế Thủ đô tuy có tốc độ tăng trưởng cao nhưng vẫn còn tả những nhân tố thiếu vững bền; cuốn vốn đầu tư nước ngoài, huy động vốn trong nước chưa xứng với tiềm năng, lợi thế; tình trạng đầu tư công còn dàn trải, nhiều dự án trọng tâm triển khai chậm. Đầu tư lĩnh vực tỉnh thành, nhà ở phát triển nóng dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu, thị trường bất động sản đóng băng. - Công tác quy hoạch, quản lý thành phố, quản lý đất đai có những chuyển biến tiến bộ song vẫn còn hạn chế. Tình trạng quản lý trật tự liên lạc, vệ sinh môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. - Lĩnh vực văn hóa tầng lớp có một số bất cập, kết quả xây dựng văn hóa người Hà Nội thanh tao, văn minh chưa đạt kết quả như mong muốn; tình trạng quá tải trong các bệnh viện chưa được khắc phục; cần lao việc làm, đời sống quần chúng vùng xa trung tâm Thành phố còn khó khăn, khoảng cách giàu nghèo giữa tỉnh thành và nông thôn chưa thu hẹp được nhiều. - Cải cách hành chính đã đạt được những kết quả ban sơ song còn một số mặt hạn chế: thủ tục hành chính chưa tiện lợi cho người dân và doanh nghiệp, tinh thần bổn phận trong thực thi công vụ của một bộ phận công chức có hạn chế, năng lực một bộ phận cán bộ trong cơ quan công quyền chưa đáp ứng được yêu cầu. - An ninh chính trị, thứ tự, an toàn tầng lớp trên địa bàn tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định; tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, khiếu tố và khiếu kiện đông người trên địa bàn tuy có sự chuyển biến nhưng diễn biến phức tạp ở một số nơi. - Công tác quản lý văn hóa, tầng lớp, giáo dục, y tế, đào tạo nghề tuy có nhiều cầm song tình trạng dịch bệnh, chất lượng đào tạo, công tác thông báo tuyên truyền, xây dựng đời sống văn hóa mới còn bộc lộ một số bất cập. B. Nguyên do: Duyên do khách quan:Khối lượng công việc phải giải quyết trên địa bàn Thủ đô sau hợp nhất rất lớn, trong khi đó cơ chế chính sách có nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, sự kết hợp giữa các bộ, ngành Trung ương có việc chưa đồng bộ, chưa sâu sát, sự chênh lệch về mức độ phát triển kinh tế, từng lớp giữa các địa phương, nhất là các đơn vị vùng xa trọng điểm tỉnh thành, thuần túy phát triển nông nghiệp, dẫn đến vừa phải cân đối nguồn lực cho nhu cầu phát triển kinh tế các địa phương, vừa phải tập kết trung tâm trọng điểm, trong khi nguồn lực có hạn. Tác động xấu, trực tiếp của suy thoái kinh tế toàn cầu; lạm phát, suy giảm kinh tế trong nước, ảnh hưởng của thiên tai ngập lụt cuối năm 2008, rét đậm một số năm kéo dài, diễn biến dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - từng lớp của Thủ đô. Nguyên do chủ quan:Công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của tỉnh thành trên một số lĩnh vực chưa quyết liệt, chưa sâu sát. Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở một số địa phương, sở, ngành còn thiếu năng động, chưa theo kịp đề nghị chỉ đạo của thị thành. Sự phối hợp giữa ngành và cấp có việc chưa đồng bộ. Công tác thẩm tra, giám sát của nhiều đơn vị thực hiện còn chưa thẳng băng; phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên chưa đáp ứng được đề nghị nhiệm vụ mới. 2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Nghị quyết - Nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu xây dựng Thủ đô hiện đại văn minh với nguồn lực hạn chế, các dự án trọng điểm phát triển liên lạc thành thị như hệ thống đường sắt đô thị, các đường đai, trục liên lạc hướng tâm, hệ thống chuyên chở công cộng cần phải hoàn thành sớm, nhanh nhưng nguồn vốn có hạn, khả năng tổ chức thực hành hạn chế, đòi hỏi phải có giải pháp quyết liệt, tập trung nguồn lực của thị thành, hỗ trợ nhiều hơn của Trung ương cả về năng lực nguồn vốn và tổ chức thực hành. - Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường mang lại nhiều bức xúc đối với nhân dân Thủ đô, không chỉ ở khu vực Nội Thành mà còn ở cả địa bàn các huyện ngoại thành. Việc quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm còn bất cập, lượng chất thải gia tăng, ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn… đang là thách thức không nhỏ đối với Thủ đô. - Dân số cơ học tăng nhanh, trong vòng 5 năm trở lại đây dân số Thủ đô đã tăng khoảng 60 vạn người, trong đó tăng dân số cơ học lên tới 5 vạn người/năm, cốt thuộc các đối tượng trong độ tuổi cần lao. Việc tăng dân số gây sức ép lớn đối với phát triển kinh tế - tầng lớp, an ninh trật tự và quản lý thành thị, tăng sức ép về khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, việc làm, nhà ở, quản lý dân cư thành thị. - Phương tiện liên lạc cá nhân chủ nghĩa tăng nhanh (ô tô và xe máy) trong khi phát triển hạ tầng liên lạc công cộng còn hạn chế, dẫn tới ùn tắc giao, tai nạn giao thông diễn biến phức tạp. Lượng xe máy nhiều, trong khi thị thành chưa có lộ trình hạn chế xe máy trong nội ô nên chi khó xây dựng được Thủ đô văn minh sạch đẹp theo kịp các Thành phố trong khu vực. IV ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 1. Đánh giá chung: Sau 5 năm mở mang địa giới hành chính theo quyết nghị của Quốc hội, mặc dù gặp không ít khó khăn thách thức, địa giới hành chính Thành phố được mở rộng, dân số quy mô lớn, yêu cầu phải giải quyết khối lượng công việc nhiều, đan xen phức tạp, phát triển kinh tế trong điều kiện suy giảm kinh tế trong và ngoài nước nhưng Đảng bộ, chính quyền và quần chúng. # Thủ đô đã phát huy truyền thống kết đoàn, tụ họp lãnh đạo, chỉ đạo, tuyển lựa xác định công việc trọng tâm trọng tâm, những khâu đột phá, điều hành hình liệt, đã tổ chức thực hiện thắng lợi Kết luận của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh mở mang địa giới Thủ đô Hà Nội. Thành phố đã sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị, ổn định đi vào hoạt động ngay sau điều chỉnh địa giới hành chính. Trong bối cảnh suy thoái và khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế Thủ đô vẫn tiếp kiến tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch và hoàn thiện theo hướng dịch vụ, công nghiệp - xây dựng và nông lâm thủy sản. Năm 2012, GRDP bình quân đầu người tăng 1,33 lần, tổng vốn đầu tư tầng lớp tăng 1,86 lần, thu ngân sách tăng 2 lần so với so với năm 2008 - năm đầu tiên thực hiện mở mang địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội; lĩnh vực văn hóa từng lớp, giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học công nghệ tiếp kiến phát triển; công tác xây dựng và quản lý quy hoạch, xây dựng và quản lý tỉnh thành, đất đai trên địa bàn có nhiều chuyển biến tích cực; hạ tầng liên lạc và vệ sinh môi trường thành thị được cải thiện; tình hình chính trị ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững, củng cố và tăng cường; công tác đối ngoại được tăng cường mở mang; công tác xây dựng hệ thống chính trị được củng cố ngày một hoàn thiện. Gương mặt thành phố, nông thôn có nhiều đổi thay, tạo dung mạo mới cho Thủ đô sau 5 năm phát triển được quần chúng. # Nao nức tán đồng ủng hộ. Vai trò, vị trí của Thủ đô với cả nước ngày một quan trọng. Thực tế phát triển của Thủ đô trong 5 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn, giá trị lịch sử, ý nghĩa thực tế lâu dài của chủ trương mở rộng địa giới hành chính đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô. Năm 2010, thành thị đã vinh hạnh được Đảng và nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng. . Cùng với việc mở mang địa giới hành chính theo quyết nghị của Quốc hội, Bộ Chính trị đã ban hành quyết nghị số 11-NQ/TW về phương hướng nhiệm vụ phát triển Thủ đô thời đoạn 2011-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ưng chuẩn Chiến lược, Quy hoạch phát triển kinh tế tầng lớp, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô và Luật Thủ đô được Quốc hội ban hành đã tạo thế và lực mới cho Thủ đô tiếp chuyện phát triển đi lên trong giai đoạn tới. 2. Bài học kinh nghiệm Dù rằng có nhiều khó khăn, thách thức, sau 5 năm thực hiện Kết luận của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh mở rộng địa giới Thủ đô Hà Nội, Thành phố đã đạt được những kết quả lớn đáng động viên. Qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau: Một là,sự quyết liệt, hợp nhất trong ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ; sự phối hợp bổn phận của các Bộ, ngành Trung ương đã tạo nên sự kết đoàn thống nhất trong toàn đảng, toàn quân, toàn dân và dư luận xã hội; đây là động lực, điểm tựa kiên cố và là điều kiện quan trọng để Đảng bộ, chính quyền và dân chúng Thủ đô tổ chức thực hành triển khai hội tụ có hiệu quả Nghị quyết. Hai là,thực hành đúng chỉ đạo của Trung ương; bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng và quy định của Chính phủ trong việc thực hành Nghị quyết; chủ động xây dựng mối đoàn kết hợp nhất; tụ hợp, kiên quyết, sáng tạo trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của tập thể lãnh đạo Thành ủy, HĐND, UBND, MTTQ, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội và các ngành, các cấp của đô thị. Ba là,ngay từ sau khi Quốc hội ban hành quyết nghị số 15/2008/QH12, Thành phố triển khai hăng hái công tác tuyên truyền việc thực hành Nghị quyết của Quốc hội về việc mở mang địa giới hành chính đô thị Hà Nội, tạo ra công mạnh mới kết đoàn, đồng tâm hiệp lực giải quyết những khó khăn trước mắt, thực hành tốt các đề nghị nhiệm vụ của Thủ đô trong tình hình mới, tạo không khí nô nức của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô. Bốn là,sự gương mẫu chấp hành sự cắt cử, bố trí sắp đặt lại tổ chức của các đồng chí lãnh đạo và cán bộ, công chức nhân viên đã tạo nên không khí háo hức, kết đoàn, tin cậy cùng nhau vượt qua khó khăn, thách thức để tổ chức thực hành có hiệu quả Nghị quyết. Năm là,phát huy nguyên tắc tụ họp dân chủ, truyền thống kết đoàn, thống nhất, tạo sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận tầng lớp của nhân dân. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, trong hệ thống cơ quan hành chính của thành thị và toàn tầng lớp, tạo nên sức mạnh tập thể hợp nhất, góp phần thực hiện thành công quyết nghị. PHẦN THỨ HAI PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ thời kì TỚI I. PHƯƠNG HƯỚNG tiếp kiến thực hành quyết nghị Trong 5 năm tới, trên cơ sở quán triệt và tiếp chuyện thực hiện quyết nghị 15/NQ-QH12 của Quốc hội, áp dụng sáng tạo quyết nghị Đại hội XI của Đảng, của Luật Thủ đô, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thị thành, Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - tầng lớp và Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội, huy động tối đa sức mạnh tổng hợp cả về vật chất và ý thức của Thủ đô và cả nước xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội xứng đáng với vai trò là trọng điểm chính trị - hành chính nhà nước, trọng điểm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao du quốc tế, một động lực phát triển của Vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước; có kinh tế - xã hội phát triển toàn diện, vững bền, đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng. # Càng ngày càng được nâng cao, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường, hệ thống chính trị ngày một trong sạch, vững mạnh. Phấn đấu để Hà Nội thực sự là địa phương đi đầu, về đích sớm 1 - 2 năm hoàn tất cơ bản sự nghiệp công nghiệp hóa, đương đại hóa, góp phần cùng cả nước thực hành thắng lợi đích cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng đương đại vào năm 2020; đóng góp ngày một quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước. II. NHIỆM VỤ GIẢI PHÁP chủ yếu 1. Phát triển kinh tế Tiếp kiến xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng tầng lớp chủ nghĩa, đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững, tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển kinh tế tri thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính vững bền của kinh tế Thủ đô. Tôn trọng dùng công nghệ đương đại, tăng nhanh tỉ lệ nội địa hóa, có nhiều sản phẩm với hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao. Tập trung phát triển đồng bộ, chắc chắn các nguyên tố thị trường và các loại thị trường, nhất là những loại thị trường mới được hình thành, như bất động sản, chứng khoán, lao động, khoa học - công nghệ... Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp. Khuyến khích, phát triển các loại hình dịch vụ có trình độ và chất lượng cao; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các hoạt động xuất - nhập cảng, du lịch. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp công nghệ cao; nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp mũi nhọn. Phát triển nông nghiệp bền vững, hiệu quả theo hướng đẩy mạnh sinh sản hàng hóa, sinh thái, sạch, công nghệ cao; đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu 2/3 số xã đạt tiêu chí vào năm 2020. Phấn đấu mức tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2011 - 2020 đạt khoảng 11,5 - 12%/năm; GDP bình quân đầu người đến năm 2020 khoảng 7.100 - 7.500 USD/năm; xứng đáng là trọng điểm kinh tế lớn, trọng tâm tài chính - nhà băng hàng đầu của vùng và cả nước. 2. Phát triển văn hóa tầng lớp Huy động mọi tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực và đẩy mạnh xã hội hóa để phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ thực thụ trở thành những trọng điểm lớn, đáp ứng đề nghị phát triển Thủ đô và cho sự phát triển chung của vùng và cả nước. Tiếp xây dựng văn hóa Thủ đô xứng tầm với truyền thống ngàn năm văn hiến; tạo bước chuyển biến mới trong xây dựng văn hóa người Hà Nội cao nhã, văn minh; tiếp phát triển hệ thống thông báo đại chúng, sự nghiệp sáng tạo văn chương, nghệ thuật, hoàn thiện các thể chế văn hóa, bảo tàng và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống Thăng Long - Hà Nội đi đôi với xây dựng mới các công trình văn hóa điển hình. Xây dựng, phát triển, nâng cao vị thế hàng đầu của giáo dục - đào tạo Thủ đô; đi đầu trong phổ cập giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục trung học phổ thông và trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đấu xây dựng, nhân rộng các trường chất lượng cao ở tuốt luốt các bậc học, cấp học. Kiểm tra, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục. Phát triển đồng bộ hệ thống y tế đáp ứng tốt nhu cầu coi sóc và bảo vệ sức khỏe quần chúng. Đa dạng hóa các hình thức săn sóc sức khỏe dân chúng đi đôi với đầu tư phát triển một số cơ sở y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao, đạt trình độ khu vực và quốc tế. Làm tốt công tác y tế phòng ngừa, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Phát triển mạnh khoa học - công nghệ gắn với phát triển kinh tế tri thức. Chủ động kết hợp với các học viện, trường đại học, trọng điểm nghiên cứu trên địa bàn; trọng hợp tác quốc tế để đẩy mạnh nghiên cứu, vận dụng, chuyển giao các thành quả khoa học - công nghệ, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đương đại hóa Thủ đô. Tăng cường công tác đề phòng, khắc phục ô nhiễm, khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái, chủ động phòng tránh thiên tai, đối phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Thực hành tốt các chính sách xã hội và bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho quần chúng. # Thủ đô, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa đô thị và nông thôn. 3. Phát triển hạ tầng, xây dựng, quản lý tỉnh thành, xây dựng nông thôn mới Tụ hợp đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng và quản lý quy hoạch bảo đảm đồng bộ, đương đại, ổn định và lâu dài. Trên cơ sở các quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn, đẩy nhanh việc xây dựng các quy hoạch chi tiết, phân khu chức năng, ngành, lĩnh vực và địa phương. Huy động tối đa mọi nguồn lực tạo bước đột phá về tăng cường đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông và hạ tầng kỹ thuật khung làm cơ sở để đẩy nhanh tiến trình xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại. Tụ họp đầu tư để căn bản hoàn tất việc cải tạo hệ thống liên lạc khu vực nội đô vào năm 2015; sớm hoàn tất các dự án tuyến đường đai; khai triển nhanh các dự án liên lạc trên cao, đường sắt đô thị, các công trình ngầm gắn với phát triển chuyên chở hành khách công cộng. Đẩy nhanh tiến độ cải tạo và nâng cấp hệ thống cung cấp điện, cấp, thoát nước Thành phố. Tiếp phát triển các khu thành phố mới, xây dựng các khu thành phố vệ tinh. Xử lý tốt hơn những vấn đề về nhà ở tỉnh thành, quản lý đất đai, trật tự xây dựng, thứ tự và an toàn liên lạc, thứ tự công cộng, xử lý chất thải và đảm bảo vệ sinh môi trường, xây dựng nếp sống văn minh thị thành... Hoàn thành việc di dời các cơ sở sinh sản gây ô nhiễm môi trường, một số trường đại học, cơ sở khám, chữa bệnh ra khỏi trọng điểm thành thị. Tăng cường công tác quản lý dân cư trên địa bàn; phối hợp chém với các tỉnh, thành thị, nhất là các địa phương phụ cận đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, an ninh nông thôn và giải quyết việc làm, nhằm hạn chế tình trạng di dân tự phát vào Hà Nội. Tụ hợp nguồn lực xây dựng nông thôn mới, đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - từng lớp nông thôn theo quy hoạch, ưu tiên cải thiện hệ thống đường liên lạc nông thôn, hệ thống tưới tiêu, thoát nước thải, cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh, nâng cấp các chợ, xây dựng các khu chăn nuôi và sản xuất tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm tách khỏi khu dân cư. Quan hoài xây dựng dài, trạm y tế; tăng cường đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở và chỉnh trang hạ tầng nông thôn. 4. Bảo đảm an ninh quốc phòng Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của Đảng và quốc gia, các hoạt động đối ngoại nhà nước, các sự kiện chính trị lớn diễn ra trên địa bàn. 5. Mở mang hoạt động đối ngoại và hiệp tác phát triển Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Tăng cường các hoạt động đối ngoại, nhất là với thủ đô các nước. Mở mang và nâng cao hiệu quả hợp tác, liên kết và giao lưu với một số địa phương trong vùng và cả nước. 6. Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền, MTTQ và các đoàn thể dân chúng - Nâng cao chất lượng của hệ thống chính quyền các cấp. Tiếp chuyện nâng cao vai trò, chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp; Nâng cao năng lực, hiệu quả điều hành của UBND và cơ quan hành chính các cấp; củng cố kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp của thị thành. - Nối đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân các cấp. - Tiếp tục đổi mới, chấn chỉnh Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức tranh đấu của Đảng bộ đô thị. PHẦN THỨ BA MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 1. Đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành TW tạo điều kiện sớm ban hành các Nghị định, Thông tư cụ thể hóa Luật Thủ đô để Hà Nội khai triển thực hành Luật có hiệu quả. 2. Thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích lớn, dân số đông, nhu cầu phát triển Thủ đô theo hướng hiện đại, theo kịp thủ đô các nước trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, thành thị Hà Nội đề nghị Trung ương tiếp chuyện hỗ trợ theo hướng tăng tỷ lệ điều tiết ngân sách (chí ít là 45%) để đô thị có điều kiện thực hiện tốt chủ trương của Trung ương về mở rộng địa giới hành chính, xây dựng Thủ đô văn minh hiện đại. 3. Theo đích mở mang Thủ đô Hà Nội, một trong những nhiệm vụ quan yếu là sắp đặt di dời cơ sở sinh sản kinh dinh, các trường đại học ra ngoài khu vực nội ô, tuy nhiên việc triển khai còn chậm, không có lịch trình cụ thể, yêu cầu Chính phủ tăng cường chỉ đạo, có lịch trình, giải pháp cụ thể để thực hành có hiệu quả. 4. Yêu cầu Trung ương đấu chỉ đạo phân cấp mạnh hơn cho Hà Nội đối với các lĩnh vực, vấn đề cụ thể về quản lý thành thị, đầu tư, tài chính,... Để tăng tính tự chủ cho thành thị trong giải quyết công việc của Thủ đô. 5. Đề nghị Trung ương tăng cường đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia trên địa bàn Hà Nội; cân đối, bố trí kịp thời nguồn vốn đầu tư XDCB tập kết ngân sách Trung ương cho các công trình trung tâm thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương khai triển trên địa bàn song giao thành thị thực hành. Song song, ủng hộ giới thiệu các dự án FDI quy mô lớn, có công nghệ cao; các dự án dùng vốn ODA để phát triển hạ tầng,… đầu tư trên địa bàn thị thành. 6. Trong quá trình phát triển, một số huyện ven đô có tốc độ thành phố hóa cao, một số phường khu vực phát triển có quy mô dân số lớn, đề nghị Chính phủ ưng cho phép thành lập các quận mới, tách một số phường bảo đảm hợp và nâng cao hiệu quả quản lý khu vực thành phố. [1] Mổ nội soi tiêu hóa, tiết niệu, giải phẫu chấn thương sọ não, nối mạch máu, nội soi can thiệp tim mạch tại Bệnh viện đa khoa Xanh pôn, xạ trị điều trị ung thư tại Bệnh viện Ung Bướu, máy phát hiện nhanh vi khuẩn lao ở phổi, thụ tinh nhân tạo, giải phẫu tim hở… [2] Theo đánh giá của Ủy ban nhà nước về cộng tác kinh tế quốc tế, năm 2010, 3 địa phương này gồm: Hà Nội, tỉnh thành Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu |