Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Nhà văn một thuở

Từ phải qua: Nhà văn Ngô Thảo, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, thi sĩ Thu Bồn.

Cũng trong khuôn viên khu đó còn có soạn giả Trần Hữu Trang và Nguyễn Ngọc Cung, đều hy sinh vì bị B52 ở hai thời điểm khác nhau của năm 1966, nhà văn Dương Tử Giang, nhà thơ Trần Quang Long hy sinh trong ngục tù và nhạc sĩ tài giỏi Hoàng Việt. Trước khi hy sinh, các văn nghệ sĩ này, bằng tác phẩm của mình đã tạc nên nhiều tượng đài các anh hùng dũng sĩ. Tác giả và nhân vật của mình ở chung một mặt trận, như câu thơ của Chế Lan Viên: Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy/ Bên những Dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.

Suốt chín năm chống Pháp, các văn nghệ sĩ tiền chiến đi theo cách mạng, vẫn chưa tìm được nhựa sống mới cho ngòi bút. Phải đến mấy năm hòa bình sau 1954, lớp nhà văn này mới thực sự hồi sinh, với những tác phẩm làm nên một thời kỳ văn học khởi sắc và sôi động vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Nhưng bước vào giai đoạn chống Mỹ, tình hình hàng ngũ văn nghệ đã đổi khác. Mười năm hòa bình đã kịp tạo điều kiện cho sự ra đời và hình thành một đời văn nghệ sĩ mới. Xuất thân chủ yếu từ các đơn vị đấu tranh, các vùng chiến sự ác liệt, sau hòa bình, họ được tập họp, tổ chức và đào tạo bằng nhiều hình thức, cả trong và ngoài nước, để vỡ hoang và dùng cái vốn sống và chiến đấu mà họ vừa nếm trải thành những tác phẩm văn nghệ nhiều thể loại. Có thể coi đây là đời rừng nguyên sinh. Trong rừng nguyên sinh, không phải cây nào cũng quý, nhưng các chủng loại tạo nên sự ấm no của lớp bì thực vật gồm nhiều tầng, nhiều lớp, và đặc biệt luôn có những cây cổ thụ đặc trưng, không nơi nào có được. Khi bước vào kháng chiến chống Mỹ, công tác tổ chức khéo đã bố trí để họ kịp có mặt ở khắp các vùng chiến sự trong cả nước, và tác phẩm của thế hệ nhà văn này vừa là tiếng kèn xung trận vừa là khí giới tiến công có sức công phá mạnh mẽ. Chỉ cần nhớ lại tiếng tăm và tác phẩm của Thanh Hải (Mồ Anh hoa nở), Giang Nam (Quê hương), Thu Bồn (Trường ca chim Chơ rao), Nguyễn xáp (Đường chúng ta đi, Rừng Xà nu), Trần Đình Vân (Sống như Anh)... Và những giai thoại chung quanh các tác phẩm đó đã tạo nên một tâm thế xã hội náo nức phát xuất, phấn chấn ra trận để giải phóng miền nam, thống nhất tổ quốc, chúng ta mới hiểu giá trị của những nhà văn có mặt ở mặt trận và giá trị xã hội của những tác phẩm kịp thời. Từ đó, tác phẩm của Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Viễn Phương, Lý Văn Sâm, Nguyễn Thành Vân, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Lê Văn Thảo, Trang Thế Hy, Chim Trắng, Nguyễn Bá, Lê Chí,... Từ Nam Bộ; của Nguyễn Trung Thành, Thu Bồn, Phan Tứ, Nguyễn Chí Trung, Nam Hà, Liên Nam... Từ Trung Trung Bộ đã được cả nước đón nhận với rất nhiều yêu thương và tôn trọng. Lần này, chính là các tác phẩm đã làm cho tăm tiếng các nhà văn được từng lớp tôn trọng. Một nhiệm vụ chính trị của hầu hết các nhà văn là viết truyện về các Anh hùng vừa được tuyên dương, các gương đương đầu xuất sắc. Năm tháng đã làm cho nhiều tác phẩm phục vụ nhu cầu tuyên truyền kịp thời tàn nhan phai sắc. Nhưng một số không ít những tác phẩm đó còn lại như những tượng đài các nhân vật lịch sử: Hòn đất, Người mẹ cầm súng, mong ước của đất, Gia đình má Bảy, Sống như Anh, Những sự tích ở Đất thép...

Trên miền bắc, những nhà văn đời chống Pháp cũng được kết thành đội ngũ, và lần lượt có mặt ở tuyến lửa Khu Bốn, Vĩ tuyến 17, trận mạc bắc Quảng Trị. Nguyễn Khải (Họ sống và đương đầu, Hòa Vang, chiến sĩ...), Nguyễn Minh Châu (Cửa sông, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng...) Cùng nhiều tác phẩm của Hữu Mai (Còn bút danh Trần Mai Nam), Hồ Phương (Hồ Huế), Xuân Thiều (Nguyễn Thiều Nam), Xuân Sách (Lê Hoài Đăng), Mai Ngữ, Hải Hồ, Phạm Ngọc Cảnh (Vũ Ngàn Chi), Vũ Cao, Chính Hữu,... Khối nhà văn thuộc Văn nghệ Quân đội, hầu như đều được viết sau mỗi chuyến đi dự các chiến dịch.

Mười năm hòa bình (1954 - 1964), cũng kịp đào tạo được một thế hệ trẻ có học thức căn bản, có lý tưởng và hoài bão rõ ràng. Sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần, sẵn sàng xông vào nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, sẵn sàng chống chọi hy sinh để giải phóng miền nam, thống nhất tổ quốc với ý thức: Tuổi hai mươi, làm sao không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi, thì còn chi, giang san (Thanh Thảo). Có thể coi đây là thế hệ rừng trồng. Nhưng nhờ được chọn giống kỹ lưỡng, lại gieo vào một mảnh đất giàu dưỡng chất, nên dù thời tiết khí hậu chiến tranh không thuận tiện, nhưng một bộ phận vẫn phát triển được nhân tài của mình. Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Bùi Minh Quốc (Dương Hương Ly), Lê Lựu, Triệu Bôn, Chu Cẩm Phong (Trần Tiến), Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Ngô Văn Phú, Xuân Quỳnh, Phan Thị nhàn hạ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh, Thao Trường, Cao Tiến Lê, Tô Đức Chiêu, Tô Hoàng, Trần Huy Quang, Văn Lê, Trần Mạnh Hảo... Nếu số nhà văn thế hệ chống Pháp được tính bằng con số hàng chục, thì số tác giả thuộc thế hệ chống Mỹ là hàng trăm. Cả một thế hệ vào đời với tinh thần góp sức mình hoàn thành nghĩa vụ chung là phóng thích đất nước, hợp nhất giang sơn. Và thực tại sôi động, hào hùng và bi tráng của cuộc tranh đấu đã tạo nên nguồn cảm hứng mạnh mẽ buộc họ cầm bút. Chính thành thử, ngay cả với những người được đào tạo bài bản về văn chương, thì khi sáng tác, họ vẫn có niềm tự tin, kiêu hãnh của người trong cuộc đấu tranh, của chúng ta làm, ca tụng chúng ta (Chính Hữu), nên ít bị gò bó về tìm tòi hình thức trình bày. Ở đây, chính vị trí của người cầm bút là người đội viên trực tiếp cầm súng tranh đấu đã tạo nên tâm thế hào sảng cho văn học những năm chiến tranh. Lo nỗi lo chung của đất nước, sẵn sàng đem lồng ngực tuổi thanh xuân chắn những viên đạn quân thù bắn về phía giang san, phía quần chúng. #, Là ngọn lửa ấm và sáng, ngập tràn lạc quan qua hầu hết các tác phẩm văn học thời chiến, đó là di chúc tinh thần mà đời các nhà văn dự mấy cuộc chiến tranh, qua các tác phẩm của mình muốn truyền lại cho các thế hệ kế tiếp. Nếu hiện tại đọc lại, độc giả thấy cái phần chung giống nhau nhiều hơn những tìm tòi khám phá riêng cả về nội dung cũng như hình thức từng tác phẩm, thì cũng là điều dễ hiểu. Vị, vào thời kỳ đó, do nhiều lý do có tính lịch sử, mà lý do quan trọng nhất là dù miền bắc có hòa bình nhưng giang sơn còn bị chia cắt, một cuộc chiến tranh ở phía trước là chẳng thể tránh, mọi giao lưu về tư tưởng, văn hóa được thực hiện trong một kênh rất hẹp, nên họ được hưởng chung một nền giáo dục nhà trường đồng loạt, ngoại giả không có những kênh thông báo nào khác. Điểm khác nhau và hơn thua nhau trong sáng tác phụ thuộc cốt tử vào khí chất và cả khí phách lẫn tuấn kiệt của từng nhà văn. Nếu Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trung Trung Đỉnh, Ma Văn Kháng... Hiện tại vẫn được nhắc tới với mật độ nhiều hơn như là những người có nhiều tìm tòi và đổi mới trong sáng tác thì chính yếu ở những mặt đó.

Muốn hay không, mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, văn chương và nhà văn, trong chừng mực khăng khăng cũng chỉ có thể xây dựng được một vài mẫu nhân vật tiêu biểu của đất nước mình ở vào thời kì lịch sử đó. Trở lại với Lê Anh Xuân, trong bài thơ có nhẽ là rốt cục Dáng đứng Việt Nam. Bài thơ được viết tháng 3-1968, sau Tổng tấn công Mậu Thân đợt 1. Từ một tin chiến sự, trong tổng tấn công, khi đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, có một chiến sĩ bị thương, vẫn gượng đứng tựa vào xác một chiếc trực thăng, nối nhả đạn về phía kẻ địch. Bài thơ kể lại với lời thơ giản quái dị ảnh đó.

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc khởi hành

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

Anh là chiến sĩ giải phóng quân.

Điều đáng nói là 45 năm sau, đơn vị đánh vào trường bay Tân Sơn Nhất, từ bài thơ đã truy nã lại tăm tiếng người chiến sĩ đã là nguyên mẫu cho bài thơ. Đó là Liệt sĩ Nguyễn Văn Mẹo quê ở Thạch Thành, Thanh hóa, Trung đội trưởng trung đội 1, đại đội 1, tiểu đoàn 16, Phân khu 2. Đơn vị của anh vừa được Tuyên dương đơn vị Anh hùng. Cá nhân chủ nghĩa liệt sĩ cũng đang được yêu cầu tuyên dương. Một tác phẩm bám sát cuộc chống chọi, ngoài sức cổ vũ ý thức bao nhiêu đội viên trên mặt trận, còn có những giá trị thực tiễn đầy nhân văn vượt ngoài mọi ý tưởng của người sáng tạo. Gần đây, ba nhà văn - liệt sĩ được Nhà nước tuyên dương Anh hùng: Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi, Ca Lê Hiến - Lê Anh Xuân, Trần Tiến - Chu Cẩm Phong, là một cách ghi nhận công lao to lớn của các nhà tuần tác phẩm và bằng cả sinh mệnh của mình đã hiến dâng cho Tổ quốc để nước nhà có sự hợp nhất kiêm toàn bữa nay. Trong sổ biên chép của mình về những năm tháng trước sau Đồng khởi ở Bến Tre, nhà văn Nguyễn Thi có viết: “Biết lấy gì đền đáp những hy sinh to lớn mà quần chúng. # Đã chịu đựng để che chở, bảo vệ cách mạng những năm tháng này? Mai ngày giang san thống nhất, cách tưởng niệm tốt nhất không phải là xây dựng những tượng đài to tát, mà trước nhất là chăm lo đời sống cho những người dân đã hết dạ vì cách mệnh”. Hàm ơn quần chúng. #, Nghĩ đến dân, mong sao người dân có cuộc sống tốt đẹp là tâm nguyện suốt đời của các nhà văn một thời cầm súng.

Nhưng giang san đã sang trang. Vị trí của văn học và nhà văn trong cuộc sống đã đổi khác. Người viết văn hôm nay có nhiều tự do tuyển lựa hơn trong một môi trường tầng lớp cởi mở, giao lưu văn hóa và thông tin nhiều chiều, điều kiện sáng tác và in ấn dễ dàng. Nhưng công chúng cũng có nhiều chọn lựa hơn trong các loại hình nghệ thuật. Những cánh rừng nguyên sinh rút cuộc đang được gấp rút đốn hạ bởi các dự án công nghiệp. Vai trò văn hóa trong tầng lớp cũng như với từng người có vẻ đang được khiêm tốn thu mình lại trước đòi hỏi gay gắt của cuộc mưu sinh và làm giàu bằng mọi giá. Đi theo đó là sự băng hoại chưa được kìm hãm của đạo đức xã hội, sự loạn chuẩn các giá trị nhân bản. Điều đáng suy nghĩ là hiện tượng đó diễn ra trong một giang sơn vốn có truyền thống trọng các giá trị của đời sống ý thức, luôn tìm thấy hạnh phúc trong những tiện nghi vật chất vừa phải, để cho lòng được thanh thoát. Di chúc tinh thần đó từ truyền thống văn hóa và văn học nước nhà đáng được các nhà văn trẻ hôm nay nghĩ suy để tìm chọn lối sống và sáng tác thích hợp cho mình.

7-7-2013

Nhà văn NGÔ THẢO


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét